Các bài Văn trong
đề mục Thơ Văn
theo thứ tự thời gian

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Tháng 01 năm 2011

Tháng 02 năm 2011

Tháng 03 năm 2011

Tháng 04 năm 2011

Tháng 5&6 năm 2011

Tháng 07 năm 2011

Tháng 08 năm 2011

Tháng 09 năm 2011

Tháng 10 năm 2011

Tháng 11 năm 2011

Tháng 12 năm 2011

 

Tháng 01 năm 2012

Tháng 02 năm 2012

Tháng 03 năm 2012

Tháng 04 năm 2012

Tháng 05 năm 2012

Tháng 06 năm 2012

Tháng 07 năm 2012

Tháng 08 năm 2012

Tháng 09 năm 2012

Tháng 10 năm 2012

Tháng 11 năm 2012

Tháng 12 năm 2012

 

Tháng 01 năm 2013

Tháng 02 năm 2013

Tháng 03 năm 2013

Tháng 4&5 năm 2013

Tháng 06 năm 2013

Tháng 07 năm 2013

Tháng 08 năm 2013

Tháng 09 năm 2013

Tháng 10 năm 2013

Tháng 11 năm 2013

Tháng 12 năm 2013 

 

Tháng 01 năm 2014  

Tháng 02 năm 2014 

Tháng 03 năm 2014 

Tháng 04 năm 2014

Tháng 05 năm 2014

Tháng 06 năm 2014

Tháng 07 năm 2014

Tháng 08 năm 2014

Tháng 09 năm 2014

Tháng 10 năm 2014

Tháng 11 năm 2014

Tháng 12 năm 2014

 

Quê hương yêu dấu

Truyện ngắn của BẢO NGUYÊN

Mẹ tôi xuất thân từ một gia đình lễ giáo ở thành Huế. Mẹ đẹp nết, đẹp người và hay chữ. Năm hai mươi tuổi phần bị gia đình ép duyên, phần bản tính thích tự do nên Mẹ đã thoát ly gia đình. Mẹ đi buôn chuyến xuôi ngược từ nơi này qua xứ khác. Cuối cùng thì Mẹ dừng chân ở một nơi- sau này là nơi chôn-nhau-cắt-rốn của tôi, đó là làng Ngô Xá.

Thuở trước tiền nhân theo chúa Nguyển Hoàng về phương Nam lập nghiệp, quần tụ thành làng xã thì Ngô Xá chỉ có một làng, sau này phát triển thành hai: Ngô Xá Tây và Ngô Xá Đông. Ngô Đông rất trù phú, có chợ Ngô Xá, có sông Vĩnh Định, có đất ruộng màu mỡ, có tỉnh lộ 68 chạy dọc theo chiều dài của làng. Bằng đường bộ hay đường sông thì từ Ngô Xá có thể đi lên chợ tỉnh lỵ Quảng Trị, chợ Sãi của quận lỵ Triệu Phong hoặc đi vào Thừa Thiên qua ngã Hội Yên,Thanh Hương, đến phá Tam giang rồi vào thành Huế. Làng Ngô xá phong cảnh hữu tình, con người hiếu khách, họ sống theo từng cụm, từng xóm. Giáp Ngô Tây là xóm Đạo gồm những gia đình theo đạo Công giáo. Khoảng giữa là xóm Chùa gồm những gia đình theo đạo Phật. Đoạn cuối là xóm Chợ bao gồm những người ngụ cư, họ sống trên bộ lẫn dưới thuyền nên còn gọi là vạn đò Ngô Xá .Phần lớn dân làng làm nghề nông, hết mùa vụ họ xoay qua buôn bán, làm thợ hoặc nghề thủ công. Làng Ngô xá rất nổi tiếng bởi những Đình, Chùa, Miếu vũ, Thánh đường cũng như nhà thờ Họ,Phái. Những ngôi nhà to lớn kiến trúc theo kiểu cung đình bánh-ít-võ-cua, thể hiện rõ nét đặc thù Văn hóa Việt, không giống Tàu mà cũng chẳng giống Tây, rất chi là độc đáo.

Cuộc sống của dân làng rất nhiều lần xáo trộn theo những thăng trầm của dân tộc, của thời thế, dai dẵng những tỵ hiềm xung đột đôi khi dẫn đến chết chóc, bi thương.Sự kiện những người yêu nước Văn Thân bức bách, truy lùng, chém giết những người theo đạo Công giáo khiến những con chiên luôn kính Chúa yêu người phải bỏ làng, bỏ xứ vào rừng sâu La Vang lánh nạn. Sự kiện Việt Minh phản bội dân tộc, hô hào toàn dân đứng lên chống Pháp nhưng khi cướp được chính quyền thì ló ra cái đuôi chồn cộng sản, trở cờ giết hại người Quốc gia, áp đặt chủ nghĩa vô thần lên miền Bắc Việt Nam, tước đoạt quyền tư hữu và dân chủ, nhân quyền của mọi người dân nước Việt.

Mẹ tôi - một người đàn bà bình thường, đã lao tù không niên hạn trong xã hội nữa phong kiến, nữa thuộc địa, lại phải đương đầu với những phủ phàng do thực dân Pháp mang lại. Tôi. Vâng, chính tôi là sản phẩm phủ phàng ấy. Trong một trận càn của lính Pháp, chúng đốt sạch làng Ngô Xá, bắt bớ, bắn giết đàn ông, hảm hiếp đàn bà. Mẹ tôi là nạn nhân thê thảm nhất của trận càn này. Đến bây giờ tôi vẫn không lý giải được tại làm sao sự hiện hữu của tôi trên cõi đời này lại bắt đầu bằng cuộc cưỡng dâm bạo tàn và vô luân như thế. Một người đàn ông da trắng phương Tây đến với một phụ nữ Việt Nam da vàng bằng cưỡng chiếm, bạo lực, bằng ham muốn của loài cầm thú, tuyệt nhiên không một chút tình yêu, tình người. Xong đó rồi thôi,chẳng có gì luyến lưu, tiếc nối. Có chăng chỉ Mẹ tôi buồn khổ, lo toan suốt cả cuộc đời.

Tôi lớn lên trong làng Tề, cái tên gọi nghe buồn cười và mới lạ đối với dân làng Ngô Xá. Làng dựng nên sau đình chiến 1954, trong buổi giao thời phân chia Nam Bắc và chờ chính phủ Quốc Gia tiếp quản. Chừng khi tôi năm, sáu tuổi, chưa đủ khôn để hiểu những lời trêu chọc từ những trẻ con cùng xóm , cùng làng. Dường như chúng gọi tôi là Tây lai, là con Thực dân. Chúng không cho tôi tham dự vào những trò chơi tuổi nhỏ, cho nên tôi cảm thấy lạc lỏng, bơ vơ từ tấm bé. Ở tôi có gì khang khác với những đứa trẻ bình thường. Điều này khiến Mẹ tôi đau khổ, điên đầu với những bàn ra, tán vào của bà con lối xóm, của bằng hữu thân sơ. Ngay như ông Vạn người kết-tóc-xe-tơ với mẹ tôi ở làng Ngô Xá này cũng tỏ ra bực bội, gắt gỏng với Mẹ suốt mấy năm liền rồi bỏ đi biệt xứ. Mẹ con tôi côi cút, hẩm hiu, dựa vào nhau mà sống, mà chịu đựng bao nhiêu những gian truân phiền muộn cuộc đời

Đến lúc làng Tề giải thể, dân Ngô Xá ai nấy về lại đất vườn cũ. Họ hăm hở dựng lại nhà cữa, sửa sang vườn tược, làm lại cuộc sống. Bởi là dân ngụ cư nên Mẹ tôi không đất, không nhà, bên gia đình ông Vạn thì thờ ơ lạnh nhạt. Tôi tiếc là chưa đủ lớn khôn để sẽ chia cùng Mẹ nỗi gian khó này. Tôi chỉ biết vẩn vơ hỏi Mẹ sao buồn và lặng thinh như hóa đá. Quả thật khi Mẹ trầm tư, đôi mắt buồn nhìn giòng sông Vĩnh Định lặng lờ trôi chảy, tóc mẹ bay theo gió chiều lao xao cùng với khung cảnh tĩnh mịch yên ắng của làng quê, trông Mẹ thánh thiện đẹp đẻ vô cùng. Lúc Mẹ tôi định bỏ làng Ngô Xá mà đi thì thầy Nghĩa đã cho mẹ con tôi ở lại trên chính mãnh vườn của thầy. Thầy Nghĩa - người mà tôi phải tôn kính, trân trọng suốt đời -không những là ân nhân của chúng tôi, mà còn thầy giáo dạy tôi chữ nghĩa từ vỡ lòng cho đến lúc trưởng thành. Thầy đã hướng dẫn tôi phải sống làm sao cho đúng đạo làm người. Thầy đã ảnh hưởng lớn lao đến tư duy và chí hướng của tôi. Thầy là tia nắng hồng ấm áp sưởi đời bọt bèo trôi nổi của tôi trong những ngày đông buốt giá.

Làng Ngô Xá hồi sinh trong hòa bình. Tất cả đều được xây dựng lại. Mẹ tôi đã dựng được ngôi nhà tuy nhỏ nhưng rất xinh. Với sự giúp đỡ của thầy Nghĩa mẹ tôi đã có quầy hàng xén ở chợ Ngô Xá để buôn bán kiếm sống qua ngày. Buổi đầu làng, xóm tái lập chưa có trường học nên thầy Nghĩa mở lớp dạy chữ cho trẻ con vào ban ngày và người lớn vào buổi tối. Trẻ nhỏ chúng tôi từ đó có chổ học hành thay vì rong chơi vô bổ. Chưa có bút mực, sách vở, thầy làm cho mỗi em mỗi thanh tre nhỏ làm viết, chia ô vuông viết trên sân đất nhà thầy, còn chử và nghĩa thì phải nhớ nhằm lòng lời dạy của thầy. Lâu dần thì thầy và phụ huynh cũng kiếm được bàn ghế, bút mực và giấy viết và lớp học càng lâu càng có nhiều học sinh. Buổi tối Mẹ tập cho tôi viết. Mẹ nhất định bắt tôi cầm viết bằng tay phải dù tôi thuận tay trái trong lúc thầy Nghĩa thì tùy nghi, nên sau này tôi viết được cả hai tay. Đây là điều khác thường trong những cái không-giống-ai của con bé tóc vàng da trắng ở làng Ngô Xá này. Nhà tôi với nhà thầy Nghĩa cách nhau một khoảng sân, có hàng dâm bụt làm ranh giới. Trong tầm nhìn thơ ấu của tôi thì đất vườn nhà thầy rất lớn, bốn phía bao bọc bởi những cây mít đã cao tuổi đời nhưng đến mùa có rất nhiều trái. Vườn của thầy phía Bắc giáp tỉnh lộ 68, nam là sông Vĩnh Định. Từ nhà đến bến sông dễ chừng tới vài trăm mét. Mé sông có cây sung to lớn, dềnh dàng, những cánh tay của nó vươn ra giữa giòng che mát cả một vùng, đêm sáng trăng từ đó nhìn lên thấy chị Hằng như vỡ ra từng mãnh, rơi loáng thoáng trên mặt nước.

Tuổi thơ của tôi đó. Thanh bình. Dễ thương. Những trưa hè nóng bức tôi thường trú ngụ ở gốc sung. Giòng nước mát cho tôi những khoan khoái, nhẹ nhàng, tựa như tôi đang bơi trong trong vòng tay trìu mến của mẹ, trong tình thương bao la của thầy. Mùa Hè năm sau nhà thầy Nghĩa có thêm một người, anh Bảo - con trai út của thầy - đang ở trọ trên thành phố Quảng Trị và theo học trường Thánh Tâm. Anh lớn hơn tôi chừng 5, 6 tuổi. Làng quê cách phố thị chừng 7 km mà trông người tỉnh thành có khác. Tề chỉnh. Trắng trẻo. Không như trẻ con ở làng quê luôn ở trần chân đất, đen đúa, tinh nhịch, đôi khi nói năng tục tỉu. Lần đầu gặp anh Bảo tôi linh cảm như giữa hai chúng tôi có gì đó rất gần gũi, rất ràng buộc. Dễ chừng anh là điểm tựa của nhành khô tôi đang vật vờ trong cơn nước lũ. Anh Bảo đã đưa tôi tham dự vào những trò chơi mà bọn trẻ con cùng tuổi ở làng không cho tôi dự phần như đá banh, đánh căng, ù mọi...Có anh Bảo bọn trẻ không còn chế nhạo, bắt nạt tôi nữa. Thật tình, cả nhà từ thầy Nghĩa, chị Thiện và anh Bảo ai cũng thương mến tôi.

m tôi mười tuổi, làng Ngô Xá mới có trường Tiểu học đầu tiên. Phụ huynh và trẻ con đều rất đỗi vui mừng. Mẹ cho tôi đi học và thầy Nghĩa cũng thôi dạy trẻ con vào ban ngày.Nhập học trường công lập thì phải hội đủ giấy tờ, phải có giấy khai sinh. Trẻ con ở làng dường như chưa đứa nào có giấy khai sinh. Chúng tôi chỉ có tên-cúng-cơm xen lẫn với hỗn danh mà thôi. Tôi tên Lài, có hỗn danh là Lài-tây-lai để phân biệt với Lài-bọ-ngựa và các cô bé tên Lài khác. Đến khi làm giấy khai sinh, tôi không có cha nên lấy họ của thầy, Mẹ đặt tên tôi là Nguyển Nam Phương. Con gái mà không có Thị đệm thì cũng rất lạ đối với mọi người thời bấy giờ, bởi vậy mà ngày tựu trường đầu tiên trong đời lại có kỷ niệm đáng nhớ. Hôm đó cả mẹ, thầy Nghĩa đều đưa tôi đến trường, dù từ nhà đến trường chỉ vài chục mét. Ngôi trường mái ngói năm gian vừa mới được cất lên.Tường quét vôi trắng và bàn học thì mới tinh, cáu cạnh. Thầy hiệu trưởng Nguyển Đức Ga đọc diễn văn khai giảng và giới thiệu những giáo viên của trường ( trong đó có chị Thiện, con gái lớn của thầy Nghĩa ).Tiếp theo thầy Vọng hiệu phó gọi tên học sinh vào lớp. Thầy gọi tên học sinh nam trước. Đến lượt Nguyển Nam Phương không thấy ai bước ra khỏi hàng, thầy gọi tiếp những tên khác. Khi danh sách gọi tên đã hết, mọi học sinh đã vào lớp, chỉ mình tôi còn đứng trơ trọi ở sân trường. Cũng may mẹ tôi tới kịp, mẹ phân trần gì đó với thầy hiệu phó, tôi được nhận vào lớp của cô Hảo.Trường tiểu học công lập Ngô Xá Đông là trường mới lập, học sinh rất đông, gồm ba xã Triệu Trung, Triệu Tài, Triệu Sơn nên nhà trường xếp lớp không theo độ tuổi mà theo sức học qua khảo hạch. Nhờ học với thầy Nghĩa mấy năm, tôi đọc thông viết thạo, biết làm toán, làm   n nên được xếp vào lớp ba bậc tiểu học. Không lâu tôi trở nên học sinh xuất sắc của trường được thầy cô giáo, bạn học mến thương, nhưng trong tận cùng tâm khảm điều tôi mong nhất là mau chóng đến Hè để được vui chơi cùng  anh Bảo.

m 1958 tôi đi thi bằng Tiểu học. Cả làng Ngô Xá chỉ có 15 em đi thi trên tổng số 50 đi học. Một việc trọng đại của đời người, mẹ tôi nói pha lẫn tự hào, đắc chí. Thầy Nghĩa thì lúc nào cũng điềm đạm, ung dung. Thầy cho tôi thời khóa biểu vừa học thi vừa chơi rất thoải mái. Tôi có bốn giáo viên dạy kèm, ôn thi rất nhiệt tình và đầy tình thương, trách nhiệm. Thầy Nghĩa và anh Bảo môn Toán. Mẹ tôi và chị Thiện môn Văn và khoa học thường thức. Thầy Nghĩa nói tôi có bộ nhớ lạ thường. Quả vậy, tôi không thông minh để phát kiến những điều mới lạ, nhưng những gì mà tôi đã đọc qua, đã từng trải thì tôi nhớ rất lâu, diễn tả lại hoặc viết ra từng chi tiết rõ ràng và không hề lẫn lộn. 

Tôi đã thi đậu bằng Tiểu học với kết quả hạng tối ưu. Tôi chưa biết hãnh diện về thành tựu của mình, nhưng mẹ tôi và thầy Nghĩa thì vui mừng khôn xiết. Trong làng Ngô Xá ngoài tôi, Hường xóm Chùa, Phúc xóm Chợ đậu bình thứ mà bà con họ hàng khao cỗ, ăn mừng to lắm. Biết mẹ tôi hơi buồn và phân vân về điều này, thầy Nghĩa gợi ý mẹ nên nghỉ chợ vài ngày, cả hai nhà đi thuyền lên chợ Sãi, xuống chợ Chùa ( ở Vĩnh Lại ) vừa du ngoạn thay cho ăn mừng tôi đỗ đạt, vừa để mẹ mua hàng sĩ về bán lẽ ở chợ Ngô Xá. Tôi và anh Bảo mau mắn tán đồng, thế là cuộc du ngoạn bằng thuyền được thực hiện. Mẹ tôi vui vẻ, tươi tắn hẳn lên. Mẹ cười vui và nói chuyện liên hồi. Chuyện xưa. Chuyện nay. Chuyện đông-tây-kim-cỗ. Sôi nổi nhất là lúc mẹ và thầy tranh luận về Tự Lực Văn Đoàn, về những nhà văn lớn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo Thầy cầm lái. Chị Thiện đằng mũi. Mẹ, anh Bảo và tôi là những tay chèo tài tử. Con thuyền nhẹ nhàng lướt sóng. Anh Bảo và tôi tha hồ ngắm trời-trăng-mây-nước. Những hàng tre xanh dọc hai bờ Vĩnh Định lùi dần về sau khi con thuyền băng băng lướt tới. Những đám mây trôi bàng bạc lững lờ. Những đàn chim di nhắm vùng biển xanh sãi cánh. Tôi liên tưởng đến một khung trời xa lạ nào đó, rất mơ hồ và hư ảo nên tự nhủ lòng những giây phút này đây phải được trân trọng gìn giữ ngàn đời.

Với mãnh bằng Tiểu học hạng tối ưu, với thân thế mù mờ nữa Tây, nữa Việt, bổng dưng tôi được nhiều người biết đến. Viện mồ côi. Hội từ thiện. Nhiều Tổ Chức, Đoàn Hội muốn nhận nuôi dưỡng hoặc bão trợ cho tôi. Một buổi chiều Hè, sau khi đi chơi thả diều với anh Bảo ở đồng Lườn về, tôi thấy mẹ và thầy Nghĩa đang tiếp chuyện  ông cố đạo người Pháp.Thầy nói chuyện với ông cố đạo bằng tiếng Tây. Ông cố đạo nói chuyện với mẹ bằng tiếng Việt. Tôi lễ phép cúi chào. Tôi rất đổi ngạc nhiên khi mắt mẹ rực sáng, long lanh pha lẫn oán hờn, phẫn hận. Tôi không hiểu và không nên hiểu chuyện người lớn. Tôi len lén trở ra và đi chơi bơi thuyền với anh Bảo. Sau này mẹ tôi kể lại. Thì ra ông cố đạo muốn đem tôi đi, muốn nuôi nấng tôi khôn lớn, muốn cho tôi được trở về quê cha ở cách đây đến nữa vòng trái đât. Mẹ tôi không tán đồng. Mẹ nói người Pháp, thực dân Pháp thiếu trách nhiệm với dân tộc Việt Nam. Đành rằng mọi cuộc chiến tranh đều có nguyên lý, động cơ của nó. Nhưng công lý, đạo đức không cho phép người ta nhân danh chiến tranh để làm chuyện tồi bại. Bức hiếp một người đàn bà chân-yếu-tay-mềm để thỏa mãn dục vọng là tội ác. Gieo khổ đau cho người khác rồi ngoãnh mặt làm ngơốt nhà người ta không một lời xin lỗi, che dấu hành vi xâm lược bằng mỹ từ khai phóng nhược tiểu, bão hộ thuộc địa thì trên hành tinh này chỉ có một nước Pháp văn minh, có văn hóa, có nhiều nhà tu hành lỗi lạc mới làm được như vậy mà thôi. Thực dân Pháp, vâng chính họ đã cấu kết với cọng sản chia đôi đất nước Việt Nam. Dẫu sao tôi cũng chỉ là giọt máu rơi của ông Tây xâm lược nào đó đã bỏ quên trên xứ sở này, vô tình như bọt bèo trên biển cả, như giọt sương mai tan biến đi khi nắng hồng trải lối. Gợi ý của ông cố đạo thể hiện lòng nhân từ của bậc tu hành. Mong rằng bên trong chiếc áo choàng đen kia là trái tim nhân ái, không phải là cạm bẫy phỉnh phờ. Điều mà mẹ tôi nhắm đến là chính sách thực dân của nước Pháp khi đô hộ Việt Nam và trách nhiệm của nước Pháp đối với dân tộc Việt Nam sau khi họ thất trận ở Điện Biên Phủ. Sự lựa chọn của mẹ tôi trước đề nghị của ông cố đạo và sau này ( cho tôi ) quả là có lý, có tình. Dầu sao cũng cám ơn sự chiếu cố của ông cố đạo. Dầu sao cũng cám ơn đời bởi tôi được sinh ra và lớn lên trong làng quê Việt Nam bát ngát tình người. Cám ơn Thượng đế đã cho con có người Mẹ quá đỗi dịu dàng, nhưng vô cùng dũng cảm. Cám ơn Thầy đã cho con niềm tin và nghị lực. Quê hương tôi là Việt Nam ngàn lần yêu dấu : Là Mẹ, là Thầy, là anh Bảo, là làng Ngô Xá thân thương có giòng sông Vĩnh Định hiền hòa thơ mộng.

Mới đó mà tôi đã vào trường Trung học Nguyển Hoàng. Tôi có mẹ chăm lo mọi điều. Tôi có thầy Nghĩa hướng dẫn, chỉ dạy tận tình. Tôi có thầy cô giáo và bạn bè, có anh nữa anh Bảo ơi, niềm tin yêu thương nhớ ngút ngàn. Tôi có một thuở học trò vàng son trong một đất nước thanh bình, an lạc. Tiếc thay, thuở thanh bình ấy đã đi qua rất vội vàng ngắn ngủi. Khi nền đệ nhất cọng hòa cáo chung thì chiến tranh đã manh nha trở lại. Chiến tranh giữa hai nước có cùng một Việt Nam yêu quý. Chiến tranh ý thức hệ Quốc Gia và cộng sản giữa những người Việt Nam máu đỏ da vàng. Từ 1964 ở làng Ngô Xá đêm đêm có những du kích mò về hoạt động. Họ không ai xa lạ, nào cu Út con chú Sừng, thằng Mao con ông Lạc, Lài bọ ngựa con thím Sen, những bạn làng cùng trang lứa, hơn một lần cùng nhau học đánh vần quốc ngữ và viết chữ bằng thanh tre trên sân đất nhà thầy Nghĩa. Họ là những anh chị du kích khờ khạo, không phân rõ chánh tà, cuồng tín đến nổi chém giết, thủ tiêu ngay cả người thân, họ hàng của mình. Mẹ tôi rất lo lắng về việc vài ba đêm du kích mò về thu thuế hoặc bắn giết ai đó ở trong làng. Thế là mẹ tôi dọn lên thành phố Quảng Trị, mở quầy hàng buôn bán nhỏ ở chợ tỉnh lỵ, phần lo cho tôi ăn học, phần thoát ra khỏi màn đêm tăm tối nghẹt thở ở làng quê. Mỗi cuối tuần anh Bảo và tôi về làng sum họp với thầy và chị Thiện.

Tôi bước vào tuổi mười tám trăng tròn, biết mộng mơ và nhung nhớ. Lần đầu nhận được thư tỏ tình của nam sinh cùng học lớp đệ nhị C tôi thẩn thờ, bối tối. Tôi suy nghĩ mông lung. Rất nhiều người đã gặp, đã tán tỉnh tôi, nhưng trong thế giới đàn ông người mà tôi xa xót mong chờ, quay quắt nhớ thương, xúc động bồi hồi lại chính là anh Bảo. Anh đích thực là niềm tủi thân của tôi, là bóng sung mát mẻ cho tôi trú ngụ những trưa hè. Không ai lý giải được tình yêu, riêng tôi chiêm nghiệm được rằng anh Bảo gần tôi lắm nhưng cũng xa cách tôi ngút ngàn, anh rất quen thuộc nhưng cũng rất lạ lẫm. Tôi có thể biết mọi điều về anh nhưng cò thể không hiểu gì về anh cả. Anh Bảo -Một thế giới bí ẩn và quyến rũ lạ thường. Mẹ tôi nói anh Bảo là mẫu đàn ông bất khuất, có tinh thần trách nhiệm, lại có số đào hoa. Thông thường ai có máu nghệ sĩ đều lăng nhăng với số đào hoa thiên định.Mẹ nói thế làm tôi lo quá. Một bữa anh đánh đàn cho tôi hát khúc tình ca, bổng dưng tôi nghĩ đến đã có người con gái khác, hơn một lần có được hạnh phúc mong manh này, bên người tình yêu dấu, giữa buổi sáng trăng nên thơ, tình tứ như thế này. Thế là tôi òa khóc. Anh buông đàn ngồi lặng thinh. Chừng như để tôi qua cơn thổn thức, anh nữa-đùa-nữa-thật nói rằng: Nước mắt vốn dĩ là một loại hiếm quý, có thể nhiều hơn cả đại dương, có thể không có giọt nào, nếu để chảy ra ngoài là biểu hiện điều vui mừng hay hờn giận ngọt ngào, nếu để chảy vào trong là biểu hiện nỗi thương tâm thống hận ghê gớm. Có người khóc thật mà cũng có người khóc màu mè. Em đã khóc không như điều anh vừa nói, có thể là do em tưởng tượng ra điều gì đó khiến em tủi thân, mà tưởng tượng là không có thật, do vậy có muốn khóc thêm lần nữa e rằng rất khó. Phải không ? Tôi không biết phải đáp lời anh thế nào cho phải. Tôi nhìn anh nồng nàn đắm đuối. Điều mà tôi chờ đợi từ rất lâu vụt đến. Tôi bâng khuâng, bàng hoàng, ngây ngất. Nụ hôn anh nóng bỏng, nồng nàn, vụng dại, như một giao kết hẹn thề không diễn đạt bằng lời.

Tôi đang sống với những mộng ước no tròn, tình yêu nồng thắm. Nhưng cuộc chiến tương tàn càng lâu càng dữ dội. Chiến tranh đã khuấy động những mơ ước hồn nhiên tuổi học trò. Trường học bãi khóa, đóng cữa bởi biểu tình, bạo loạn. Đường phố ngổn ngang bàn ghế, vật cản từ những người, những tổ chức chống đối chính phủ miền Nam, trong khi ở làng quê Việt cọng gia tăng thu thuế, bắt bớ, chém giết và chôn sống bất cứ ai họ cho là kẻ thù. Việt cọng gây nên bao cảnh tương tàn, man rợ, không thể nào phôi pha trong lòng dân chúng. Đó là phần chính của câu trả lời vì sao người Quảng Trị rời bỏ quê cha đất tổ xuôi Nam, bỏ nước mà đi cho dẫu là ra đi trong ngậm ngùi cay đắng.Thầy Nghĩa kính yêu ngàn đời của tôi cũng đã chết với đòn thù oan nghiệt như vậy. Đến lúc cả nhà chuẩn bị cho chị Thiện lên xe hoa về nhà chồng, thầy Nghĩa có việc khẩn phải vào quận Hải Lăng hội họp. Hơn hai ngày chưa thấy thầy về, cả nhà đang lo lắng thì dân làng cho biết hung tin, thầy đã bị Việt cộng giết chết ở gần cầu Phương Lang. Cả họ hàng, lối xóm, bàng hoàng phẫn uất. Khi đến nơi tôi bàng hoàng khiếp đảm trước cảnh tượng vô cùng dã man: Ba người đàn ông trong đó có thầy tôi và cô gái còn rất trẻ, tất cả đều bị trói, bị chém từ sau gáy, bị chôn đứng dưới hố đất mới đào chỉ chừa phần ngực trở lên. Mẹ tôi và chị Thiện ngất xỉu khi nhìn cảnh tượng này. Tôi thảm thiết gọi thầy ơi và cùng với anh Bảo nhảy xuống hố vuốt mắt thầy, lần cỡi sợi dây trói. Sợi dây oan nghiệt. Hận thù. Tôi thấy mắt anh Bảo đỏ ngầu. Những đường gân máu hiện lên rõ như nỗi căm phẫn trong lòng anh. Lạ một điều cả hai chúng tôi đều không thể khóc được. Mắt ráo hoãnh mà cõi lòng thì bầm tím, tái tê. Cả làng ai cũng tiếc thương thầy. Họ nói Việt cộng lại tiếp tục trả thù những chiến sĩ Việt Quốc (VNQDĐ ) như Việt cộng tàn sát người Quốc Gia trước đây ở miền Bắc.

m mươi ngày sau, khi nấm mồ thầy tôi chưa kịp xanh cỏ thì những kẻ bức hại thầy  và chiến hữu của ông cũng đều bị đền tội. Trong cuộc phục kích của anh Mẫn quận trưởng - chồng chị Thiện- mười hai xác người bê bết máu được kéo lên từ con hói - ranh giới làng La Duy và Ngô Xá - để đồng bào nhận diện, chôn cất. Họ là cán bộ cấp ủy của Hải Lăng và Triệu Phong. Mọi người ai cũng ngạc nhiên khi nhận ra ông Vạn, người đã biệt làng, biệt xứ từ rất lâu. Rồi ông Vạn cũng được chôn trong phần đất nghĩa trang của giòng họ Nguyển bởi ông cùng tộc với thầy dù không gần thân lắm. Mẹ tôi lại chít vành khăn trắng để tang cho người chồng cũ. Nhưng tôi biết trong tận cùng sâu lắng vành khăn kia, tâm hồn mẹ là chỗ của ân nhân, của bạn tri âm là thầy Nghĩa muôn vàn kính mến. Đêm đêm mẹ ngồi lặng thinh nước mắt lưng tròng. Tôi thương mẹ vô cùng. Tôi lại càng thương anh Bảo bội phần. Anh đã mất mẹ từ thuở nhỏ, nay phải mất cha bởi vết chém oan nghiệt hận thù. Những oái ăm, ngang trái từ làng quê Ngô Xá, có thể là bối cảnh chung của mọi miền đất nước Việt Nam thời bấy giờ.

m đầu của thập niên 70, chiến tranh ở quê hương tôi trở nên khốc liệt. Thành phố Quảng Trị, Đông Hà lúc nào cũng đầy ắp lính chiến. Bầu trời luôn ầm ĩ tiếng máy bay, tiếng đạn pháo kích. Không gian khét lẹt mùi thuốc súng. Bởi thế mà cuộc sống cũng trở nên nôn nóng, vội vàng. Mãnh bằng tú tài toàn phần đang trong tầm tay với. Ngưỡng cữa Đại Học đang rộng mở đón chờ. Nhưng trang sách học không còn thơm mùi hoa bưởi, hoa cau, không thấp thoáng màu hồng tương lai mời gọi mà chỉ thấy một màu xám tro thê thảm võ vàng. Thế là tôi đành đoạn bỏ ngang việc học hành. Tôi xin làm việc ở ty xã hội, một phần để mẹ tôi nhẹ gánh cưu mang, phần khác để tôi có cơ hội sẽ chia những đau buồn mất mát của đồng bào chiến nạn. Anh Bảo cũng đành xếp bút nghiên theo việc đao cung, lên đường ra trận mạc. Bên này hoặc bên kia chiến tuyến, giữa hai ý thức hệ nghịch thù, anh Bảo và tôi đã rạch ròi chọn lựa. Cuộc tình đang chín rộ. Vườn hồng đang nở hoa. Thế mà chúng tôi đành chia xa, lâu thật lâu mới gặp lại. Ước gì quả đất ngừng quay, mặt trời thôi mọc, để những đôi tình nhân thời chinh chiến có được những ngày bên nhau dài lâu bởi họ là kẻ đầu sông người cuối bãi, cùng uống chung giòng gian truân thương nhớ ngút ngàn.

Mùa Hè đỏ lữa 1972 bất chợt đến với người dân Quảng Trị như một nỗi kinh hoàng , ghê sợ. Thành phố tan hoang. Làng mạc tiêu điều. Màu đỏ thắm của hoa phượng, cùng với tiếng ve râm ran mùa Hạ, thông thường là khúc nhạc lòng du dương của thời học trò trong trắng, nay đổi thành màu máu tanh hôi và là điệu kèn buồn thảm tiễn đưa chiến sĩ Quốc Gia, đồng bào chiến nạn đã bị quân Bắc Việt sát hại trên đường di tản về Nam. Đại lộ kinh hoàng. Con đường man rợ. Tôi đã đi dưới đạn pháo, súng thù với tâm trạng rối bời, thảng thốt. Tôi đã thấy tận mắt những khuôn mặt trẻ nón-cối-mũ -tai-bèo. Họ là những người lính rất trẻ, bề ngoài trông bình thường giản dị, nhưng sao lòng họ khát máu vô cùng. Họ nhắm thẳng vào đồng bào mà bắn. Xe tăng T54 đè lên những thân xác cụ già, trẻ nhỏ. Những đụn cát hai bên đường loang lỗ máu đào của hàng trăm dân lành vô tội. Những thi thể gãy lìa, đứt đoạn. Van lơn, kêu xin thật vô ích đối với " bộ-đội-cụ-hồ ", bởi họ là người máy, không linh hồn, không trái tim, không biết rung động mà chỉ biết có chiến thắng. Tôi đã đi qua một vùng sao-đỏ-búa-liềm hò reo man rợ. Tôi đi tìm mẹ tôi. Mẹ đã lạc đâu trong giòng người hỗn loạn. Đến đoạn cầu Dài, lố ngố những người là người, ngổn ngang xe pháo của cả hai bên lâm trận.Có những tiếng hô xung phong bắt trói được đáp trả bằng những tiếng chửi thề quen thuộc của miền Nam và tiếng lựu đạn nổ chát chúa từ những người lính cộng Hòa thất thế sa cơ. Họ tự sát để không rơi vào tay quân thù tàn bạo. Khi những họng súng AK chĩa thẳng về hướng tôi. Tôi nhào xuống sông Bến Đá như một phản ứng tự nhiên, sinh tồn trong gang tấc. Tôi đã lặn bao lâu. Tôi đã bơi bao xa. Tôi đã vượt thoát qua bao nhiêu làng mạc, núi đồi.Tôi đã hóa thân làm bướm vàng đang nhởn nhơ nô đùa với anh Bảo giữa đồng quê thanh bình tươi mát. Sau hơn hai tháng nằm bệnh viện Huế, tôi trở lại Ty Xã Hội làm việc. Tòa hành chánh tỉnh và tiểu khu Quảng Trị di tản về phía Nam nơi giáp ranh giữa Thừa Thiên-Quảng Trị. Công việc của Ty xã hội rối bời. Bộ xã hội phải điều đông nhân viên xã hội từ các tỉnh khác giúp sức. Ngoài ra còn có những đoàn thể thiện nguyện như Hồng thập tự, Tổng hội sinh viên cùng chung lo việc ổn định đời sống của đồng bào. Tôi cố gắng làm việc để quên đi niềm đau riêng tư, nhưng nào đâu quên được. Mẹ ơi, mẹ đã bỏ con lại bơ vơ trên cõi đời này. Thật ra Mẹ không chết ở đại lộ kinh hoàng. Mẹ tìm về làng Ngô Xá. Lúc Việt cộng cưỡng bức số dân làng ít oi còn lại qua làn ranh đỏ (bên kia sông Thạch Hãn  mẹ không chịu đi. Mẹ quyên sinh ở ngôi nhà bé nhỏ, xinh xinh của mình. Mẹ đã chết ở nơi mà buổi sinh thời mẹ dừng bước giang hồ, lãng tử. Là nơi mà số mệnh an bài tôi đã được sinh ra. Mẹ đại biểu cho những phụ nữ Việt Nam đã bị thực dân Pháp làm nhục đến nay lại bị Việt cọng đày ải và hăm dọa bỏ tù. Mẹ chọn lựa chết cũng là cách để gặp lại ân nhân và là bạn tâm giao,tri kỷ nơi suối vàng.

Tôi đã thật sự mất trắng rồi. Mất Mẹ, mất Thầy. Mất quê hương tuổi thơ ngàn lần yêu dấu. Cho đến tận cùng mất nước vào tháng tư 1975 tôi lại mất nốt cả anh, anh Bảo ơi. Một cuộc di tản buồn tênh tan nát. Tôi đã theo giòng người ra đi sau tháng tư đen thảm sầu đau đớn. Tôi đành đoạn ra đi. Một sự chọn lựa vô cùng nghiệt ngã. Tôi ra đi không hẳn là mời gọi của miền đất hứa, mà chính là nỗi ám ảnh khủng khiếp khi phải đi dưới vùng sao-đỏ-búa-liềm hò reo man rợ, khi phải chứng kiến người cọng sản tung hô chiến thắng trên thống khổ điêu linh của triệu triệu dân lành. Có thể các bạn chỉ đọc sách báo, nghe tin tức về Đại Lộ Kinh Hoàng, về sự bức tử lẫn nhau giữa Quốc Gia và cộng sản. Nhưng tôi là chứng nhân của một thời đau xót Việt Nam. Tôi đã nhìn thấy những người lính trẻ Bắc Việt thản nhiên bắn giết dân lành vô tội miền Nam. Tôi đã chứng kiến cảnh xe tăng T54 của Việt cọng đè lên thân xác cụ già trẻ nhỏ trên Đại lộ kinh hoàng. Thảm cảnh đó làm sao mà quên được. Làm sao mà cùng chung bầu trời, cùng hít thở không khí với những con người vô nhân tính. Vâng, tôi đã ra đi với những vành khăn tang trĩu nặng tâm hồn, với bào thai chưa đầy ba tháng. Anh Bảo ơi, cám ơn anh đã cho em những nụ hôn nồng nàn, quyến luyến. Những xúc cảm ân ái tuyệt vời. những hạnh phúc thầm kín của một thời con gái, dù rằng hạnh phúc đó rất mỏng manh, thảng thốt bởi những tràng đạn pháo kích từ phía quân thù, hay những lần đi phép quá vội vàng, ngắn ngủi mà áo trận giày sô còn vướng bụi sa trường.

Anh không kịp đưa em về tới bến,

Nên thuyền nan vắng thiếu một tay chèo.

Con nước ngược có bập bùng gió chướng,

Xin hảy đừng chao đão hởi em yêu.

Đoạn thơ viết sau cùng của anh từ chiến trường Thượng Đức Quảng Nam tôi vẫn mang theo suốt cả chặng hành trình. Tôi đã ngâm nga như một người điên trên con tàu di tản. Anh ở lại với quê hương thân yêu mịt mờ sương khói. Đoàn quân anh lẽ loi cùng với những chiến sĩ Biệt Kích Tây Hồ băng vượt Trường Sơn về biên giới Việt Lào sau ngày Đà Nẵng thất thủ ( 29.3.1975 ) nay đã đi về đâu ?.

 Hai mươi mốt năm trông chờ tin tức. Hai mươi mốt năm xa cách, võ vàng. Thèm lắm bữa cơm có rau dền, canh hến. Có Mẹ, có Thầy, có chị, có anh. Ngôi nhà bé xinh xinh bên giòng sông Vĩnh Định muôn đời thơ mộng. Làng quê Ngô Xá vẫn còn đây rộn ràng trong ký ức, biết đến bao giờ về thăm, thắp nén hương tưởng nhớ mẹ hiền, viếng mộ thầy và thăm lại xóm làng xưa. Và anh nữa, anh Bảo ơi - Điểm tựa của nhành khô em đang trôi nỗi vật vờ trong cơn lũ ngàn phương.

                                                 ************************

Thủy Tiên thân yêu của mẹ

Mẹ viết những giòng này mừng con hai mươi mốt tuổi. Hạnh phúc thay cho con là được sinh ra và lớn lên ở đất nước thái bình thịnh vượng, không có cảnh can qua, nội thù, chinh chiến. Cuộc đời mẹ cùng với nỗi thăng trầm của một thời Việt Nam đau xót là đây.Tuyệt nhiên mẹ không nhen nhúm trong tâm hồn con những hận thù vô lý từ một thuở điêu linh. Mẹ chỉ mong con hiểu được cội nguồn, quê cha, đất tổ. Và con hiểu vì sao cùng máu đỏ da vàng mà người ta bức tử nhau đến tận cùng như vậy. Con có một làng quê hiền hòa, một giòng sông thơ mộng. Con có một người cha hoàn hảo, tuyệt vời. Có thể ông đã hy sinh vì nước. Cũng có thể ông còn chiến đấu (với cọng sản) đơn độc ở một nơi nào đó trên quê hương Việt Nam. Con kết tinh từ một tình yêu trung chính, đậm đà. Chẵng lẽ nào chúng ta làm kiếp chim di muôn đời không bến đậu. Có lẽ nào chúng ta hát mãi khúc bi ca ai oán, ngậm ngùi.  Hảy quên đi những gì đáng phải lãng quên và phải nhớ chúng ta còn có quê hương đang vàng võ mong chờ. Biết không, hởi niềm tủi thân và nỗi kiêu hãnh dịu dàng của mẹ.

BẢO NGUYÊN

CO 10.1996

Cựu Tù Nhân Chính Trị VN Colorado  

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

   

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 22 Apr 2017 09:14 AM