Các bài Văn trong
đề mục Thơ Văn
theo thứ tự thời gian

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Tháng 01 năm 2011

Tháng 02 năm 2011

Tháng 03 năm 2011

Tháng 04 năm 2011

Tháng 5&6 năm 2011

Tháng 07 năm 2011

Tháng 08 năm 2011

Tháng 09 năm 2011

Tháng 10 năm 2011

Tháng 11 năm 2011

Tháng 12 năm 2011

 

Tháng 01 năm 2012

Tháng 02 năm 2012

Tháng 03 năm 2012

Tháng 04 năm 2012

Tháng 05 năm 2012

Tháng 06 năm 2012

Tháng 07 năm 2012

Tháng 08 năm 2012

Tháng 09 năm 2012

Tháng 10 năm 2012

Tháng 11 năm 2012

Tháng 12 năm 2012

 

Tháng 01 năm 2013

Tháng 02 năm 2013

Tháng 03 năm 2013

Tháng 4&5 năm 2013

Tháng 06 năm 2013

Tháng 07 năm 2013

Tháng 08 năm 2013

Tháng 09 năm 2013

Tháng 10 năm 2013

Tháng 11 năm 2013

Tháng 12 năm 2013 

 

Tháng 01 năm 2014  

Tháng 02 năm 2014 

Tháng 03 năm 2014 

Tháng 04 năm 2014

Tháng 05 năm 2014

Tháng 06 năm 2014

Tháng 07 năm 2014

Tháng 08 năm 2014

Tháng 09 năm 2014

Tháng 10 năm 2014

Tháng 11 năm 2014

Tháng 12 năm 2014

 

Giữa hai lằn đạn

     Truyện ngắn của Bảo Nguyên

Năm tôi mười lăm tuổi, cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc, giữa hai ý thức hệ Quốc Gia và Cọng sản, giữa hai Nước cùng một dân tộc,giống nòi đang đến hồi khốc liệt .Dường như người ta trút hết mọi hờn căm, chí quyết thắng lên những trận mưa bom, đạn pháo và những thứ vũ khí tân kỳ, hạng nặng được chế tạo từ Mỹ, Nga Sô,Trung Cọng.Tất cả đang từng phút từng giây trút xuống trên thành phố Quảng trị nhỏ bé thân yêu. Ở nơi đó có những hàng phượng trên tuổi tứ tuần cứ mỗi mùa Hè lại trỗ cho đời những giàn bông đỏ thắm Ở nơi đó có ngôi trường Nguyển Hoàng thân thương .Có nhà của tôi với mái ngói rong rêu và giàn thiên lý tỏa hương mát dịu bốn mùa Ở nơi đó ngày thường bay lượn những tà áo dài nũ sinh quyện với lá bàng khô chao đảo giữa những chiều cuối Thu nhạt nắng.Thành phố tan hoang, đỗ nát,vùi lấp những thân xác Việt Nam máu đỏ da vàng gồm thường dân vô tội và trăm trăm ngàn ngàn chiến sĩ cả hai bên lâm trận.Tất cả đều đáng được tôn vinh bởi họ chết đi với mãn nguyện đã đền xong nợ Nước, với một niềm tin hy vọng về một tương lai nước nhà thống nhất, sáng lạn, huy hoàng. Đáng quy trách là những kẻ cầm quyền ở cả hai phía đều lú lẫn, làm tay sai cho ngoại bang, cam chịu mang thân phận con chốt thí trên bàn cờ mà thắng bại người ta đã ngã giá, định vị đâu vào đấy cả rồi. Không có tủi nhục nào lớn hơn khi non sông gấm vóc Tổ Tiên để lại ngày nay trở thành bãi chiến trường – nơi thí nghiệm những loại vũ khí tàn độc của những thế lực quốc tế đang tranh bá xưng hùng.Không có gì đau buồn hơn khi hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam đang làm bia thịt cho những cuộc thí nghiệm kia.Thế mà vẫn tung hô chiến thắng.Thế mà vẫn ôm ấp hoài mặc cảm chiến bại, để rồi dai dẵng hận thù nhau.Thế hệ người già không còn chi cho lớp trẻ kế thừa thì cũng đừng nên để lại hận thù, hiềm khích vô lý lây lan đến bao đời hậu thế.

   Mùa Hè đỏ lữa 1972, trên đoạn đường từ Long Hưng đến cầu Bến Đá những cảnh tượng hải hùng man rợ đã xảy ra ngoài sức tưởng tượng của con người.Trong giòng người xuôi Nam chạy loạn, có lẽ tôi và mẹ tôi là trong số những người kém may mắn   phải lộn ngược trở về.Mà về đâu nhỉ.Thành phố đang mịt mờ khói súng.Hai dãy phố đường Quang Trung đang ngã đỗ rào rào bởi những loạt pháo hạng nặng tầm xa từ hướng Gio Linh bắn vào, Cữa Việt bắn lên.Không còn nhà để về nên mẹ tôi quyết định về làng nội ở cách thành phố khỏang 7 km về hướng đông. Mẹ quyết định phải tách ra cho mau khỏi vùng đạn bom, băng qua cánh đồng lúa Long Hưng, Đại Nại và Trâm Lý, để đến bên kia bờ sông Vĩnh Định tạm lánh ở nhà nội rồi sau đó vượt thoát vào Nam. Nhưng hởi ơi toan tính đó đã không thành.Khi chúng tôi vượt qua được những cánh đồng đầy xác người, đến con lộ bên  này sông Vĩnh ( chạy từ Trí Bưu đến Hội Yên ) đoạn Trâm Lý thì bị “quân Giải phóng “ chận bắt.Họ lùa tất cả gồm thường dân,( đàn ông, đàn bà,trẻ con..) và quân nhân miền Nam thất trận qua sông Vĩnh, nhắm hướng Bắc thẳng tới.Không hẹn mà nên đoàn người đi như chạy, đi càng xa càng tốt nơi đạn bom đang xé gió tấp nập bay về.

   Tôi cố nhìn thêm một lần cuối cùng thành phố tuổi thơ đang chìm trong biển lữa.Những cột sáng bốc cao từ trong thành Đinh Công Tráng cùng với những tiếng nổ lớn vang dội đất trời khi màn đêm buông xuống. Đâu đó trong đoàn người bị bắt một bà già la lên thảng thốt ‘Quảng Trị miềng mất rồi bà con ơi “.Không hiểu bà ta bày tỏ sự vui mừng hay niềm thống tiếc.Đâu đó trong đám quân nhân miền Nam bị bắt có người hô to Việt Nam Cọng hòa muôn năm. Quảng Trị muôn năm, rồi lựu đạn nổ và những thân người gục xuống giữa ruộng bùn, chết lúc này thật là uổng phí, nhưng ít ra những người lính nghĩa quân, Địa phương quân, binh chủng này, đơn vị nọ họ đã thể hiện khí phách quân nhân, hết lòng với quê hương khi thất thế sa cơ. Cùng là Việt Nam với nhau, giữa sự sống và chết chỉ còn là làn ranh mỏng manh, giữa thế tấn công và phòng ngự đều hỗn loạn trong tiếng bom gầm đạn rú nhưng chiến tuyến trong lòng người quả nhiên rạch ròi hơn cả vách sắt tường đồng.Chỉ tội cho thường dân đang quáng quàng chạy loạn, đang mắc kẹt giữa hai lằn đạn oan khiên.Ơi Tự Do đang nằm ở phương nào? Khi đoàn người bị bắt qua được bờ Bắc sông Thạch Hãn thì trời đã rạng sáng.Người ta nhìn rõ mặt nhau.Hằn âu lo sâu hơn cả những rã rời, mệt mỏi.Mặt trời ửng đỏ hướng đông và tiếng đại bác xa dần.Sân đình làng Trà liên đông ngẹt những người là người.Người ta đứng ngồi ngỗn ngang.Số quân nhân miền Nam bị bắt do “uỷ ban quân quản” tiếp nhận và được dẫn đi chỗ khác.Thường dân ở lại đây chờ “ trình diện uỷ ban hành chính cách mạng “.Mệt.Tôi ngủ thiếp đi một lúc lâu khi thức dậy thì mặt trời đã đứng bóng. Ánh nắng chênh chếch trên những ngọn tre già, cũng là lúc mà chúng tôi phải ngồi lại thành hàng, đếm số., nghe đại diện “ủy ban kháng chiến tỉnh “nói chuyện với đồng bào.Từ chiếc mũ cối đội đầu cho đến bộ đồ bạc phếch màu sương gió, ông ta đứng đó trên bực thềm của sân đình nói như hét và lập lại nhiều lần như-thể-cà-lăm. Ông ta đại diện “chính quyền cách mạng “ chào đón đồng bào đã “ tự giác “từ bỏ “ vùng Mỹ-Nguỵ kềm kẹp  trở về với cách mạng. Ông ta hứa là sẽ sớm “giải phóng quê hương đem lại cho đồng bào trăm điều hạnh phúc.Chỉ đơn giản có vậy mà ông ta tràng- giang- đại - hải, dùng những từ lạ hoắc, những từ đảo vị cả âm lẫn nghĩa.Cách mạng hay thiệt.Không-nói-thành-có. Chuyện-bé-xé-thành-to.Việc nhỏ trở nên trọng đại.Rõ ràng đám đông dân chúng đang ngồi đây chẵng có ai ‘tự giác” trở về “vùng giải phóng”..Họ rời đi từ Cam Lộ, Đông Hà, từ Cổ Thành, Bố Liêu…cố vượt qua đại- lộ- kinh – hoàng đến Mỹ Chánh mà không được.Họ đang trên đường chạy giặc thì bị ‘bộ-đội-giải-phóng “ bắt về đây.Tôi hiểu như vậy và sự thật cũng là như vậy.Hóa ra giải phóng có nghĩa là cướp đi những gì mà người khác có mà mình chưa hoặc không có bằng bạo lực .Nói cách khác là chiếm đất bắt dân.Muốn hay không muốn khi đã chiếm được thì người dân đều phải xem như tự giác.Bài bản này không phải ở đây đến bây giờ mới có.Nó đã có từ lâu lắm, trước 1917 ở Nga,1948 ở Trung Hoa. dù có tà đạo hay chánh đạo thì chính nghĩa vẫn thuộc về kẻ chiến thắng.Nguyên lý của chiến tranh giải phóng là như vậy, rất giản đơn mà đảo ngược trật tự một nữa địa cầu, làm chuyển động giòng sinh mệnh của rất nhiều dân tộc.

  Phần lớn đồng bào không quan tâm mấy lời của ông ‘đại diện uỷ ban kháng chiến Tỉnh’.Người ta đang lo nghĩ chút nữa đây số phận của mình sẽ đi về đâu.Người ta đang lo nghĩ về người thân của mình trong cơn chiến loạn.Như mẹ và tôi đang lo lắng về ba tôi, về ông nội và cô Tín. Ba tôi đang phục vụ trong quân đội miền Nam.Có thể đơn vị của ông đang giao tranh với Việt Cọng ở một nơi nào đó trên chiến trường Tây Nguyên.Có thể trên đường ra trận hoặc đương lúc giao chiến với quân thù ông cũng mang tâm trạng lo âu về vợ con, gia đình đang ở vùng giới tuyến là đất lữa Quảng Trị này đây.Có điều ông không thể nào hình dung được mẹ con tôi và đồng bào chạy loạn được cách mạng ‘chăm sóc’ kỷ như thế này. Sau phần nói chuyện của ‘Ủy ban kháng chiến’ là lúc đồng bào phải tự khai báo lý lịch.Mấy ông cán bộ cầm giấy bút chạy-lui-chạy-tới ghi chép lời khai.Mẹ tôi rất thật thà.Khi được hỏi đến,  mẹ nói mẹ là y tá đã mấy năm nay làm việc tại bệnh viện Quảng Tri.Thế là mẹ và cả tôi được ‘biên chế’về trạm cấp cứu thương binh ở gần đây theo nhu cầu khẩn cấp của chiến trường.Những người khác không biết cách mạng ban đặc ân như thế nào.Về sau tôi mới rõ là trên đường cưỡng bức ra Bắc họ đã tìm cách trốn về Nam gần hết.Riêng những quân nhân miền Nam bị bắt làm tù binh ‘cách mạng’ xử dụng vào việc tải đạn cho binh đoàn Bắc Việt đang chốt giữ Thành Cổ Quảng Trị.Họ -những tù binh khốn khổ - đã chết thê thảm với công việc vận chuyển này.Không dưng mẹ con tôi lại trở thành nữ cứu thương chiến trường .Mẹ tôi là công chức ngành y tế của Việt Nam Cọng Hòa, được đào tạo qua trường lớp chuyên môn, tội nghiệp tôi đang là con nai vàng ngơ ngác giữa chợ đời man rợ phải làm công việc chưa bao giờ học qua, chưa bao giờ nghĩ tới. Đã là người thì ai trong chúng ta lại không đau về nỗi đau của người khác.Có người chỉ nghe kể lại đã đầm đìa nước mắt, huống chi chúng tôi hàng ngày phải băng bó vết thương, nghe thấy, cảm nhận sự đau đớn quằn quại của những người bị đạn bom xé lìa thân thể.Phần lớn trong số họ là những thanh thiếu niên từ Bắc vào ‘giải phóng miền Nam’.Tiếng gọi sinh Bắc tử Nam như một điệu kèn đồng phấn chấn.Nhưng đó chỉ là khẩu hiệu Đó chỉ là tuyên truyền. Sự thật rất đổi đắng cay về tinh thần nhập cuộc của thanh thiếu niên miền Bắc và sự hăng hái của họ thì chỉ có trời biết, đất biết và những tên đầu nậu đảng Cọng sản Việt Nam biết mà thôi.Ngay bản thân, gia đình họ cũng biết mà ai dám nói ra.Trong chế độ mà sự quản lý xã hội, quản lý con người bằng phương thức sổ hộ khẩu và tem phiếu thực phẩm hàng ngày thì sẽ không có một lỗ rò nào để con kiến có thể bò qua. Làm sao mà không nhập cuộc được.Trong hoàn cảnh quá ư thiếu thốn của nhân dân miền Bắc, từng bữa cơm hàng ngày lại phải chia ra, cân đong, đo đếm, chật vật đến nỗi muốn nhường-cơm-xẽ-áo cho mẹ già em thơ cũng không lấy đâu ra ngoại trừ nhịn cả phần mình.Tất nhiên nhà nước xã hội chủ nghĩa không để ai chết đói, nhưng để có một bữa ăn vừa đủ no thì chẳng bao giờ. Riêng bộ đội thì lại khác.Tiêu chuẩn cao gấp mười so với dân thường.Nhà nào có con em gia nhập bộ đội ‘giải phóng miền Nam’ thì tem phiếu sổ gạo gấp đôi.Nhà nào có con em chần chừ chưa tình nguyện nhập ngủ, hoặc đã vào bộ đội mà bỏ ngủ trốn về thì phải gánh hậu quả nhục nhằn thê thảm.Ngoài biện pháp cắt sổ gạo, đuổi ra khỏi hợp tác xã, bị cách ly với bà con xóm làng như là cùi hủi,quan chúc địa phương còn lôi cả ba đời giòng họ ra mà chửi rũa ra rã ngày này qua tha tháng nọ.Làm sao mà chịu đời cho thấu.Làm sao mà không hăng hái tòng quân.Làm sao mà không thề nguyền sinh-bắc-tử-nam cho được.Cho đến lúc lâm trận giải phóng quân có lúc được (bị ) chích thuốc kích thích để không biết sợ hải là gì, hoặc bị xiềng chân vào ụ súng lúc giao chiến để không còn cơ hội tháo lui.Tâm tình của những thương binh còn rất trẻ là như vậy.Sự thực của xã hội chủ nghĩa miền Bắc cũng là như vậy.

  Giải phóng miền Nam là lệnh truyền từ những trùm Cọng sản quốc tế.Bão vệ miền Nam lại là mệnh lệnh từ những tay trùm tài phiệt tư bản.Một khi họ nghĩ rằng đã đo lường được sức của nhau rồi thì nên giảm dần cho đến chấm dứt cuộc chơi.Tất nhiên phe nào rồi cũng có phần lợi lộc thu về từ chiến cuộc Việt Nam.Còn những mất mát to lớn, những hệ lụy triền miên thì dân tộc chúng ta -chiến sĩ, đồng bào cả hai miền Nam Bắc Việt Nam còng lưng gánh chịu mà thôi.Mong những người lãnh đạo miền Bắc nên thấu hiểu nghĩa tình quốc-tế-vô-sản anh em nó bạc như  vôi và chóng phai như loài hoa sớm nở tối tàn.Mong những người lãnh đạo miền Nam nên sớm nhận ra sự tráo trở của đồng minh một khi khi sách lược toàn cầu của họ thay đổi.

  Cuộc chiến trên quê hương đỏ tươi màu phượng vĩ của tôi quả thật rất dài.Số lượng bom đạn đã trút xuống trên thành phố Quảng Trị nhỏ bé thân thương và con số người thương vong (đồng bào và chiến sĩ) thực tế còn nhiều hơn gấp bội số cọng lại mà cả hai bên lâm chiến tuyên truyền.Mức độ tàn phá khủng khiếp hơn cà điều người ta tưởng tượng, biết mấy đời sau mới xây lại được như xưa.

  Tuổi thanh xuân của tôi đỗ vỡ ngỗn ngang như đống gạch vụn bên đường, giăng mắc đầy kẻm gai chiến hào, vàng võ một màu tang tóc.Nhưng trong tận cùng khốn khổ tôi vẫn mơ thấy một màu xanh dịu êm của đồng lúa mơn mởn thời con gái.Tôi mơ thấy mình đang đùa vui với bạn bè trên thảm cỏ xanh của sân trường.Hởi ơi còn đâu nữa mà mong.Hoàn cảnh hiện tại của tôi lơ lững và nghiệt ngã tới chừng nào.Không phải thường dân, cũng không phải tù nhân.Trên bước đường chạy loạn được hay bị ‘bộ đội cụ hồ’ bắt về làm công tác cứu thương chiến trường, phục vụ trong những binh trạm .Khi thì ở trạm tiền tiêu.Khi thì ở trạm trung chuyển.Mỗi trạm có năm bảy y tá ( chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp) thì đã có năm bảy vệ binh canh chừng.Họ kiểm tra lẫn nhau.Cứ ba người lập thành tổ tam chế.Tôi và mẹ tôi ít khi được ở chung cùng một tổ.Người ta canh chừng, rình rập ngay cả thương binh.Họ sợ những thương binh đào ngủ hoặc nói năng linh tinh.Đã vậy mà họ vẫn luôn mồm gọi nhau là đồng chí.Về sau người ta chuyển tôi và mẹ về phục vụ ở bệnh viện dã chiến mang bí số Q.T 9. Bệnh viện nằm cạnh quốc lộ 1 bên bờ bắc sông Hiếu.Bên kia sông là thị xã Đông Hà trơ trọi giữa vùng nắng cháy, bao bọc bởi những căn cứ Mỹ, căn cứ quân đội miền Nam để lại sau khi rút đi.Không tìm thấy đâu  bóng dáng cây xanh.Tất cả như đang nung trong hỏa lò vào tiết hè tháng sáu.Những mái tôn nhà còn sót lại đang rung lên bần bật dưới cơn vật vã gió Nam lào.Con người như đang bồn chồn về một điều gì đó sẽ xảy ra, sắp xảy ra duy những cánh đồng khô ở phía đông thị xã, những lô cốt pháo đài ở sườn đồi phía tây còn mang dáng dấp hồn nhiên,dường như những tĩnh vật kia đang trông mong sự trở về của những chủ nhân thực sự.Sự chờ đợi quá ư mỏng manh như khói như sương mà lại vô cùng tha thiết ‘ ..Ta sẽ về Đông Hà.Ta sẽ về Gio Linh.Dành lại đất quê hương xây bằng nước mắt.Dành lại đất quê cha xiết bao mồ hôi.” Rồi nỗi đợi chờ kia bỗng trở nên hóa đá.Bao nhiêu máu xương, mồ hôi nước mắt sự hy sinh của chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị, của miền Nam thân yêu đã chảy thành sông để trôi về biển lớn, loảng tan trong bọt sóng trùng dương khuất lấp bởi những toan tính, đổi trao, mặc cả  ở bằn hội nghị.Cuộc chiến đấu vệ quốc  kéo dài một phần tư thế kỷ của quân dân miền Nam đã bắt đầu kết thúc từ đây.

  Hiệp định Paris năm 1973 thực chất là sự bán đứng miền Nam vào tay quỷ sứ.Để rồi trắng hóa thành đen, vàng sơn thành đỏ, chánh trở nên tà và ma quỷ âm binh biến thành những thiên thần đáng mến dưới bàn tay phù thuỷ của ngài tiến sĩ Henry Kissinger.Trong cách nghĩ của tôi giải thưởng Nobel về hòa bình dành cho ngài tiến sĩ chứa đựng muôn vàn thống khổ, đau thương và phẫn hận của triệu triệu chiến binh cũng như dân lành vô tội miền Nam, của Việt Nam Cọng Hòa trong tình cảnh mất Nước, mất nhà, ly tán thảm thương về sau này.Là một người Việt Nam bình thường, không bị chi phối bởi bất cứ phe nào giữa hai bên lâm chiến, tôi không thể nào hiểu được rằng có cuộc chiến tranh nào mà không thắng không bại.Có binh pháp nào mà lịch trình triệt thoái quân bộ chiến lại thông báo cho đối phương từng giờ, từng ngày.Tôi lại càng không hiểu nhà ngoại giao lỗi lạc kia đã mang lại ích lợi gì cho nước Mỹ và nhân loại qua chiến cuộc Việt Nam, có phải ông ta đã làm sứt mẻ uy tín của cường quốc Hoa kỳ, có lỗi với 58 ngàn chiến binh Hoa Kỳ đã chết tại Việt Nam trong sứ mạng bão vệ hòa bình ngăn chặn làn song xâm lăng của cọng sản quốc tế

    Sau hiệp định Paris, lằn ranh chia cách hai miền Việt Nam được chuyển dời về sông Thạch Hãn.Lại thêm một lần quê hương Quảng Trị của tôi bị cắt thịt xẻ da.Mới hôm nào đây thôn xóm vui vầy, những con đò ngang là nhịp cầu để bên này bên kia sông qua lại, để trẻ thơ đến trường, người lớn qua chợ, nông dân xuống đồng mà bây giờ như cách xa diệu vợi. Ông ở bên này cháu bên kia, chỉ một phút giây thôi vợ chồng ly tán cha con chia lìa. Từ cảng Đông Hà  đến nhà tôi ở đường Quang Trung thành phố Quảng Trị chỉ cần tới nữa ngày đi bộ, mà mẹ con tôi không thể nào thực hiện được.Bệnh viện dã chiến ngày càng đông thương bệnh binh.Chúng tôi phải làm việc vất vã suốt ngày.Ban đêm phải học tập chính trị.Những ngày gần đây lại phải học quân sự, tập bò, tập bắn, đủ thứ chuyện trên đời mệt ơi là mệt.Tôi không hiểu bên bờ Nam sông Thạch hãn, ngôi nhà của tôi, ông nội và cô Tín ở làng quê bây giờ đã thế nào rồi. Ở đây vùng mới  “giải phóng” được thông báo đã hòa bình mà sao công việc chuẩn bị Nam tiến lại vô cùng rầm rộ và “khẩn trương”.Hầu như bộ đội và dân chúng chảng có giờ để ngủ.Nhiều lần tôi muốn trốn khỏi nơi này.Tôi muốn trở về ngôi nhà cũ.Nhưng trốn làm sao được.Người ta canh gác nghiêm ngặt và kiểm tra từng giờ.Tôi nhớ ba tôi quá đỗi.Dễ chừng hai năm rồi tôi không gặp được ba.Bây giờ nghiệt ngã làm sao ba tôi và tôi hai người lại ở hai quốc gia đối nghịch.Bầu trời cũ. Sông núi xưa.Những con đường quen thuộc bỗng chốc lại phân hai. Điều này thì không một người Quảng trị nào mong muốn, không một gia đình Việt nam nào trông mong.Nghịch lý hơn là những tay lạnh máu lúc ngồi với nhau nơi bàn hội nghị để định vị một lằn phân ranh, họ cũng chảng biết- hoặc cóc cần biết- tỉnh Quảng trị nằm ở mô, sông Thạch hãn nằm ở chỗ nào, miễn là thuận mua vừa bán.Nào ai nghĩ đến sinh linh.Nào ai nghĩ đến nỗi vật vã đau xót của đồng bào.Chúa Nguyển Hoàng xưa cũng không ngờ được đến hôm nay trong đàn hậu thế của mình lại có những tên bán nước cầu quan.Bán quê cha đất tổ, rước quỷ vô thần về cai trị đồng bào để đổi lấy chức tước vinh quang lẫm liệt một thời.Sông Hiến Lương trước, giòng Thạch Hãn nay hằn phân ranh tạo nên nhiều nghịch cảnh và hệ lụy.Hầu như gia đình nào ở Quảng Trị cũng bị phân hai.Người theo Cọng sản, người theo Quốc Gia ( vô tình hay cố ý ).người ra Bắc thì bị chế độ xã hội chũ nghĩa nghi kỵ trù dập bởi có thân nhân ở trong Nam.Người vào Nam thì bị chế độ Cọng Hòa nghi ngờ trù ẻo bởi có người thân đang ở ngoài Bắc.Công bằng mà nói thì cả hai chế độ đều không tốt và không được lòng dân.Những kẻ tự nhận là lãnh đạo ở cả hai miền, hai quốc gia không có lấy một chút nào tinh thần tự quyết của giống nòi, chính họ đẵ gây nên bao điêu linh thống khổ và quá nhiều hệ lụy cho dân tộc Việt Nam.

      Cho đến mùa Xuân năm 1975 thì Quảng Trị quê tôi và cả miền Nam Việt Nam hoàn toàn được (hoặc bị ) giải phóng. Nói cách khác là Việt Nam Cọng Hòa rơi vào tay Cọng Sản theo ý đồ của hòa hội Paris, nhưng tiến trình lại nhanh hơn.Nhanh đến nỗi người chiến thắng phải ngẩn ngơ và người chiến bại chưa kịp hiểu vì sao phải thua trước khi ào ra biển hoặc dẫn xác vào “ trại cải tạo “.Tiến trình “giải phóng miền Nam “ nhanh đến nỗi mà tinh thần quốc tế vô sản anh em giữa Nga Sô và Trung Cọng, giữa Việt Nam và Trung Quốc phải mưng mũ và vỡ toang, trong tích tắc từ bạn trở nên thù, đồng chí trở nên đồng rận.Còn người bạn đồng minh Hoa Kỳ của Việt Nam Cọng Hòa thì an nhiên tự tại, đang mở túi hồ lô bày ra canh bạc mới.

  Chiến tranh Việt Nam như thế đó.Nó đến từ thách thức, đối kháng quyết liệt và kết thúc rất đỗi bất ngờ, ngoài dự tính của những người trực tiếp lâm trận.Phần dân chúng ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam vốn đẵ thống khổ điêu linh từ bấy lâu thì việc chấm dứt chiến tranh là điều mong đợi.Ai quan tâm làm gì đến kẻ thắng người thua.Những giọt nước mắt mừng tủi của mẹ già khi đón con về đoàn viên sau chiến cuộc không có nghĩa là mừng vui reo hò chiến thắng, cũng không phải là nỗi bi thương thua trận mà đích thực là giọt chân tình rất ư Việt Nam, đặc biệt Việt Nam với sự quảng đại bao dung thấm đậm tình người.Lịch sử Việt Nam cũng đã hơn mấy lần chia cắt, nội chiến nhưng chung cuộc tổ tiên chúng ta vẫn hòa ái thương yêu đùm bọc lẫn nhau, kẻ thắng người thua bao dung hỗ trợ  nhau trong việc kiến quốc, làm cho nước mạnh dân giàu.Có đâu như những kẻ đương quyền thời nay ( thời cách mạng vô sản ) tự khoe mình là đỉnh cao trí tuệ loài người mà hành xử với người ngã ngựa quá ư  tàn bạo.Cùng là Việt Nam máu đỏ da vàng  sao lại nỡ đày ải người còn sống vào những “trại tập trung cải tạo “ vô cùng khắc nghiệt, đẩy hàng trăm ngàn gia đình lên  những vùng kinh tế mới hoang vu nước độc rừng thiêng ?Cùng là giòng giống rồng tiên sao lại nỡ đào mồ cuốc mã cha ông, cày xới nghĩa trang quân đội cọng hòa, trả thù những người đã mất, đổi dời tên phố, tên làng, đập phá chùa chiền, nhà thờ miếu vũ…

       Viện dã chiến Q.T 9 nằm cạnh quốc lộ 1A nên hàng ngày chúng tôi nhìn thấy những đoàn quân xa chở hàng từ Nam ra Bắc.Mấy ông cán bộ nói đó là chiến lợi phẩm tịch thu được của Việt Nam Cọng Hòa sau đại thắng mùa Xuân 1975, nhưng sự thật chiến lợi phẩm đó là của cải người dân miền Nam. Nếu như những bất động sản, nhà cữa, bến cảng sân bay, đồn điền.có thể chở đi được thì chắc cách mạng chẵng chừa lại cho đồng bào miền nam thứ gì.Có điều những chiến lợi phẩm kia, nhất là vàng trong quốc khố Việt Nam Cọng Hòa và tiền của đồng bào miền Nam chẵng hề sung vào công quỷ của nhà nước, mà tùy theo cấp chức nhỏ to của mấy quan cách mạng, họ “tư túi” rất chi là tự nhiên thoải mái.” Quê hương là chùm khế ngọt, ai to thì lấy được nhiều.Lẽ ra sự nghiệp giải phóng miền nam mang một ý nghĩa khác, nhưng mấy ngài trong bộ chính trị đảng Cọng sản Việt Nam lèo lái thế nào mà thực tế lại trở nên cuộc cướp cạn vô-tiền-khoáng-hậu, có một không hai trong lịch sử dân tộc.Thực tế đó, chính sách trả thù tàn bạo kia đã xô đẩy hàng trăm ngàn gia đình Việt Nam phải vượt biên, vượt biển.Trong số những người bỏ nước ra đi không ít những nhân tài đắc dụng trong việc kiến quốc ở thời bình, không thiếu những người yêu nước có lòng vói quê cha đất tổ.

  Chấm dứt chiến cuộc Việt Nam là cơ hội bằng vàng để dân tộc ta xây dựng tương lai, kiến thiết đất nước, vươn mình lên với thế giới, xóa tan mặc cảm nhược tiểu da vàng nhưng sự thiển cận, độc tài, kém cỏi của đảng Cọng sản Việt Nam trong việc quản trị và xây dựng đất nước trong thời bình cho nên nước vẫn nghèo, dân vẫn khổ mà oán thù thì chất ngất trường sơn

Khi hai miền Bắc Nam thống nhất.thì bệnh viện Q.T 9 cũng chuyển đổi, ”biên chế” lại lập thành bệnh viện cấp tỉnh.Lúc này mẹ con tôi mới vỡ lẽ rằng mấy năm nay chúng tôi là tù nhân không-hơn-không-kém.Dẫu sao ông “thủ trưởng” QT9 vẫn còn chút tình cảm khi ổng “ động viên” chúng tôi trở về quê quán vui vẻ làm ăn, còn chị Hến bí thư đảng uỷ của viện QT9 thì lại rất cay nghiệt, chị nhìn chúng tôi trừng trừng, môi chị vốn đã đen sì xạm xịt khi nghiến răng lại thì trời đất dù đang ở tiết Xuân cũng phải nổi lên cơn bão tố.Trong cuộc họp biên chế chị Hến móc từ trong túi “dết” ra tập giấy học trò đã ngã màu và đọc thật to để toàn nhân viên, cán bộ của viện cùng “tham khảo”: “Theo hồ sơ quản lý đối tượng của an ninh tỉnh, theo phúc trình của công an nhân dân xã T.T, theo báo cáo của các binh trạm tiền tiêu và trung chuyển, căn cứ trên những văn thư trao đổi giữa địa phương và quân khu 5 thì Cao Thị Xuân Hương ( mẹ tôi ) đã theo bố mẹ di cư từ Bắc vào Nam sau 1954 là đã mang tội chống lại cách mạng.Y thị lấy chồng là “:sĩ quan ngụy” ác ôn, thuộc đội quân cọp- ba- đầu- rằn có nợ máu với nhân dân và cách mạng, hiện y đang bị quân khu 5 bắt giữ “tập trung cải tạo “.Gia đình chồng y thị thuộc thành phần nguy hiểm, bố chồng đã từng bị cách mạng trừng phạt trước 1954.Hai mẹ con Cao Thị Xuân Hương đã bị cách mạng chận bắt trên đường tẩu thoát vào Nam năm 1972, y thị có nghề y tá nên cách mạng xử dụng vào việc cứu thương  bộ đội,thương binh trong thời gian vừa qua.Nay vì nhu cầu “biên chế “ đảng ủy viện QT9 chuyển giao Cao Thị Xuân Hương và con gái cho công an xã T.T tiếp tục quản lý và giáo dục để trở thành người tốt” .Đặc ân mà ‘cách mạng ‘ ban cho mẹ con tôi như thế đó.Tội nghiệp mẹ tôi.bà vẫn giữ thái độ im lặng, nhẫn nhục.Trong mắt mẹ có lúc vương vấn nỗi u buồn hiu hắt, có lúc bừng sáng long lanh như có điều gì vui thích vừa chợt đến.Mà vui là phải,bao lâu nay mẹ con tôi đang băn khoăn không biết ba tôi đã thế nào trong cơn binh lữa, trong cuộc đổi đời hết sức bi thảm vừa mới xảy ra cho gia đình tôi, cho mọi gia đình Việt Nam từ vĩ tuyến 17 xuống tận Cà Mâu.Ba tôi đang ở tù cũng được. .Gian nan, cực khổ, nhục nhằn rồi cũng qua.Còn sống là còn hy vọng.Nếu như thân phận con người luôn gắn liền với vận mệnh nước non thì ba mẹ tôi và đồng bào miền Nam đã nặng chĩu trên vai gánh đắng cay, nhục tủi, nỗi phiền muộn xót xa trong tình cảnh mất nước mất nhà và bị đày ải ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình.

     Khi rời khỏi viện dã chiến Q.T9 trở về nguyên quán, chúng tôi lại phải đi qua thành phố Quảng Trị đỗ nát, hoang tàn.Khu vườn nhà tôi chuối hoang và lau lách mọc lên um tùm cùng với gạch ngói ngỗn ngang.Góc trái vườn là hố bom rất lớn.rất sâu.Căn nhà xưa là công sức của ba mẹ tôi gom lại, dành dụm từng đồng lương, tích lũy từng năm tháng mới có được cơ ngơi, thế mà bây giờ đã trở nên hoang phế. Cả thành phố chẵng còn lại gì ngoài những gạch ngói, hố bom và lau lách.Nhưng về đến làng nội thì lại khác.Nằm cách thành phố Quảng Trị chừng bảy cây số về phía Đông mà làng tôi nhà cữa vườn tược vẫn còn nguyên vẹn. Ông nội và cô Tín đón mẹ con tôi với bao mừng tủi thân thương. Lâu nay ông tôi cứ tưởng là chúng tôi đã tử nạn trên đường chạy loạn  năm 1972, nên hàng năm đến mùa hè là đều đặn nhang khói.Chỉ mới hai tháng trước đây thôi, công an địa phương mới thông báo cho ông về hoàn cảnh của mẹ con chúng tôi và cả ba tôi nữa. Dường như cán bộ ở tận đâu trong Quảng Nam đến hạch hỏi ông về ba tôi. Bài bản này thì ông tôi rành lắm.Ở vào tuổi thanh niên ông nội tôi đã tham gia kháng chiến chống Tây-xâm-lược.Cả nước dành được độc lập mùa Thu 1945, và khi mà Việt Minh ló cái đuôi chồn “Búa-Liềm-Sao-Đỏ”, ông tôi bất mản bỏ ngủ trở về quê.Thế là ông bị Cọng sản giam tù.Sau 1954 chính quyền Quốc Gia bắt tù ông tôi lần nữa bởi ông không chịu làm việc với họ.Quan điểm của ông nội là quan-nhất-thời-dân-vạn-đại Ông tôi sau đó đã hành nghề đông y nuôi thân giúp người không màng danh vọng.

  Trụ sở xã T.T cách nhà ông nội chỉ vài phút đi bộ.Mẹ con tôi phải đến trình diện công an hàng ngày.Ban ngày chúng tôi phải tham gia lao động sản xuất, đôi khi phải đi tháo gỡ bom mìn, đào mương thủy lợi, ban đêm phải học tập chính trị.Những năm tháng “quản chế” rất nhiêu khê và gian nan. Nhưng khi đã hết thời gian “ quản chế” thì mẹ con tôi và cô Tín cũng “tranh thủ” đi thăm nuôi ba tôi được một lần.Thời gian đi từ quê tôi đến trại tù Hiệp Đức Quảng Nam mất gần cả nữa tháng mà gặp được ba tôi chỉ vỏn vẹn mười phút ngắn ngủi.Mẹ và cô Tín khóc ngất khi nhìn thấy ba tôi.Tôi cố nén lòng và giữ bình tỉnh để nghe ba tôi căn dặn nhiều việc phải làm.Không riêng gia đình tôi, cả khu thăm nuôi của trại tù hôm đó đều râm ran tiếng khóc.Kịp khi ông cán bộ trực ban xăm xăm đi tới chỗ chúng tôi, ba tôi đứng dậy, vỗ vai tôi và nói “hết giờ thăm rồi, mẹ con và cô trở ra quê bình yên, đừng lo lắng gì cho ba hết và nhất mực làm đúng những gì ba căn dặn” Trở về nhà tôi nói lại cho ông nội, mẹ và cô Tín điều ba tôi căn dặn rằng cả nhà phải tìm mọi cách vào miền Nam.Có cơ hội là vượt thoát Ở đâu trên quê hương Việt Nam cũng là nhà tù.Ở đâu cũng là Cọng sản nhưng người miền Nam xởi lởi ít thù dai như người Trung, người Bắc hơn nữa ở miền Nam có thể có nhiều cơ hội vượt thoát hơn. Thế là năm 1980 cả nhà tôi âm thầm bỏ làng bỏ xứ mà đi.Ngậm ngùi bỏ quê cha đất tổ mà đi.Một năm sau đó khi 24 tuổi tôi vượt biển tại Bà Rịa.Lẽ ra cả nhà cùng đi, nhưng gia sản ông tôi chỉ vừa đủ mua được một chỗ trên con tàu vượt biển.. Khi con tàu bồng bềnh chao đảo giữa trùng dương, tôi bồi hồi xa xót.Tôi thương quá ông nội, ba mẹ và cô Tín -những người ruột thịt-đang bị đày ải, nhưng vẫn chịu đựng hy sinh, những mong thế hệ con em thoát khỏi địa ngục trần gian này.Tôi mơ màng về hình ảnh ngôi nhà của tôi mái ngói rong rêu và con đường Quang Trung với những tà áo nữ sinh bay lượn giữa nắng chiều.Tôi mơ màng về thành phố nhỏ thân thương khi hè về thì nở đầy hoa phượng và sân trường trung học Nguyển hoàng đứng gió, có ai đang mong ngóng chờ ai ?.Tất cả đã vời xa thăm thẳm mà sao đến bây giờ tái hiện trên nền xanh bao la của biển, nhấp nhô theo những con sóng bạc đầu đang đùa vui bởn cợt, nghêu ngao.Tuổi thơ của tôi đã vù bay trên khói súng mịt mờ, trên hoang tàn đỗ nát, mắc kẹt giữa hai lằn đạn oan khiên.Chiến tranh.Chiến tranh. Ơi tự do đang nằm ở phương nào?

    BẢO NGUYÊN

Denver. Colorado tháng 12.1996

 

Bn cũ.Trường xưa

Truyn ngn ca Bảo Nguyên

Thông thường người già ưa tìm về quá khứ và người trẻ ưa hướng đến tương lai.Đôi khi nhớ lại những năm tháng học trò,bạn cũ,trường xưa quả là điều thú vị.Một thời áo trắng có quá nhiều kỷ niệm.Vui buồn.Hờn giận và cay đắng xót xa.Chung lớp.chung trường,cùng thầy cô qua hết thời trung học, khi ra đời bạn bè tùy theo hoàn cảnh,chí hướng mỗi đứa mỗi phương.Có bạn đôi ba lần gặp lại,có bạn xa một lần là xa cách ngàn thu.Thế hệ chúng tôi lớn lên sau đình chiến 1954.Vĩ tuyến 17 chia đất nước thành hai quốc gia rõ rệt.Hai quốc gia thù nghịch cho dù Bắc,Nam cùng chung máu đỏ da vàng,cùng huyết thống giống nòi Việt Nam yêu quý.Quê hương chúng tôi lại là tỉnh địa đầu giới tuyến của miền Nam cho nên hệ lụy cuộc chiến ý- thức- hệ,cuộc chiến tương tàn Bắc Nam kéo dài gần một phần tư thế kỷ (1954-1975) quả là nặng nề và khốc liệt.Năm 1954 khi hòa bình lặp lại, có cơ hội đến trường tiểu học thì nhiều người trong chúng tôi đã vượt qua lứa tuổi bình thường.Thời nhất-quỷ-nhì-ma-thứ-ba-học-trò đáng nhớ nhất của chúng tôi là thời Trung học.Lớp đệ thất đầu tiên của trường trung học T.P phải học tạm tại nhà thờ Họ ở làng Bích Khê,đình làng Cổ Thành chợ Sải trong thời gian  ngôi trường trung học công lập cấp quận chưa hoàn thành việc xây dựng.Lớp đệ thất đầu tiên của chúng tôi đặc biệt bởi chỉ có một ông thầy,vừa hiệu trưởng,vừa giáo sư dạy tất cả các môn học.Chúng tôi tự đặt tên cho lớp đệ thất của mình là lớp- bông- sứ,bởi ở cả hai nơi nhà thờ Họ và đình Làng người ta trồng nhiều bông sứ.Có những chậu sứ lớn,chăm tỉa,uốn nắn rất công phu.Bông sứ trắng như màu áo học trò và hương thơm rất đặc biệt.Lớp-bông-sứ thuở ban đầu khó khăn và lao đao như thế nhưng sau này cũng đóng góp cho đời không ít bác sĩ,kỷ sư,thầy giáo,sĩ quan quân đội và chiến sĩ ở cả hai bờ chiến tuyến.Có những người đã mất.Có những người định cư ở Hoa kỳ và các quốc gia tự do trên thế giới.Có những người sống ở các tỉnh miền Nam và rất ít người ở lại quê nhà.Hạnh phúc và vinh quang cho những bạn đã hy sinh vì lý tưởng và chí hướng của mình trong cuộc chiến bởi ở vào thời tuổi trẻ đầy nhiệt huyết mấy ai tính toán điều được mất,hơn thua,chính nghĩa hay là không chính nghĩa.

Bốn năm trung học đệ nhất cấp rồi cũng qua đi,trước khi vào trường trung học Nguyển Hoàng thì nhóm bạn "Tướng-sĩ-tượng-xe-pháo-mã" chúng tôi lại mất một cặp. Anh Tế và chị Xoa bỏ học nữa chừng,nghe đâu anh chị "nhảy núi"-từ ngữ người dân quê thường gọi lúc bấy giờ -thoát ly theo "cách mạng".Hai cặp còn lại Thịnh-Phượng,Sinh-Mai hăm hở bước vào lớp đệ tam,năm đầu của ba năm đệ nhị cấp.

Nhiều người cho rằng năm học đệ tam là năm nghỉ dưỡng bởi học sinh vừa mới trải qua kỳ thi Trung Học đệ nhất cấp cũng như kỳ thi tuyển vào lớp đệ tam trường trung học Nguyển Hoàng .Lớp đệ tam chúng tôi năm đó có 50 học sinh,24 nữ,gồm nhiều bạn đến từ Cam lộ,Đông Hà,Hải lăng và Gio Linh,Mai Lĩnh...Có người đặt tên cho lớp là " Tam quậy ".Thật ra học sinh lớp  chẳng ai phá-làng-phá-xóm hay băng nhóm đánh-lộn-đánh- lạo gì,nhưng có nhiều sự kiện "nội tình của lớp " làm nhiều người chú ý.

 Giáo sư hướng dẫn lớp Tam quậy- cô TH- là giáo sư trẻ và đẹp nhất của trường.Cô luôn tươi cười,dịu dàng đối với học sinh và đồng nghiệp.Cô chưa bao giờ tỏ ra cáu gắt,giận giỗi đối với chúng tôi,bởi lẽ đó nên vài bạn nữ sinh trong lớp đã ngấm ngầm mở ra cuộc thi đua có thưởng.Cuộc thi là bất cứ ai làm cho cô giáo hướng dẫn nổi giận,la hét..thì sẽ được chiêu đãi một chầu bánh-bột-lọc - món đặc sản quê hương- mà thuở thiếu thời chúng tôi rất thích.Tiếp nhận cuộc thi, Sinh và vài bạn ( trong đó có tôi-Bảo Thịnh ) giờ ra chơi,thường tụ lại bàn mưu,tính kế.Nhân anh Cẩm trưởng lớp có làm đơn gởi cô TH xin cho lớp được làm tờ bích báo ( báo dán tường ) nhân Tết đến,Xuân về.Đơn có ghi tên họ và chữ ký của học sinh cả lớp.Nam một bên,nữ một bên ( không xen kẻ và lẫn lộn ).Sau khi học sinh lớp ký tên,bạn Sinh có trách nhiệm chuyển cho cô giáo.Đến giờ sinh hoạt lớp,giáo sư hướng dẫn đưa ra tờ đơn xin làm bích báo chỉ có chữ ký của nam học sinh và nội dung đơn quái lạ như sau : "Kính gởi giáo sư hướng dẫn lớp. Thưa cô.Cô hảy đếm ở trên trời có bao nhiêu vì sao sáng thì lòng chúng em còn kính mến,yêu thương cô nhiều hơn thế nữa -Ký tên toàn thể nam sinh lớp Tam quậy." Khác với dự đoán của các bạn đề ra và tham gia cuộc chơi,cô giáo sư hướng dẫn đã không tức giận,dù sắc mặt nghiêm trang hơn mọi khi.Cô nói cô đã trải qua thời Trung,Đại học nhưng chưa gặp một tình huống nhất-quỷ-nhì-ma nào như hiện nay và cô tin là chỉ có một nam sinh trong lớp nghĩ ra quỷ kế này,những người khác chỉ a dua mà thôi.Cô cũng yêu cầu ai đó trong lớp mạnh dạn đứng lên trình bày lý do và mục đích tráo đổi tờ đơn xin làm bích báo .Nhìn qua vẻ sợ hải của bạn Sinh và hai người khác,Thịnh nghĩ dù ít hay nhiều mình cũng đã có phần tham dự.Dám làm thì dám chịu,nênThịnh đã bước ra nhận hết trách nhiệm về phần mình.Thịnh xin lỗi anh trưởng lớp và các bạn lớp đệ tam của mình,xin lỗi giáo sư hướng dẫn,nhưng phần lý do và mục đích thì Thịnh chỉ nói chung chung là bày tỏ lòng kính mến đối với cô,còn dấu nhẹm việc cố ý làm cho cô tức giận hoặc sức hấp dẫn của chầu-bao-bánh-bột-lọc như đã ngầm hẹn ước.Dĩ nhiên cô giáo sư hướng dẫn  tha thứ,nhưng các bạn cùng lớp thì không,cho nên Thịnh phải chịu hình phạt một tháng làm việc công ích như lau chùi bảng đen,bàn ghế của lớp trước và sau buổi học,là nhân sự của lớp tham gia vào các sinh hoạt xã hội của trường và phụ trách viết,vẽ,trang hoàng tờ bích báo Xuân Hoa Niên.

Thật ra kỷ niệm thuở học trò nói hoài không hết,viết hoài chưa xong.Cơ duyên để gặp lại bạn cũ,nhớ về trường xưa trên đường-đời-xuôi-ngược quả là  hản hữu.Cuối năm học lớp đệ nhị thì tình trạng chiến tranh ở tỉnh địa đầu giới tuyến trở nên khốc liệt,xã hội biến động không ngừng,biểu tình,bải khóa xảy ra liên miên nên việc học hành,thi cử của chúng tôi cũng có ảnh hưởng phần nào.Năm ấy bạn Sinh đã đáo tuổi động viên - tuổi bắt buộc vào lính- nên anh ấy thi vào trường cán sự y tế.Sinh không thi đậu Tú tài một có thể do học-tài-thi-phận,có thể do suốt năm đệ nhị anh bận rộn với công việc tổ chức biểu tình,bãi khóa chống chính phủ miền Nam nên học hành không chăm chú và tha thiết lắm.Hết năm đệ nhị Mai (bạn được cặp đôi với Sinh ) thi vào trường sư phạm Quy Nhơn,chỉ còn Thịnh với Phượng - trong nhóm bạn Tướng sĩ tượng-xe pháo mã - còn tiếp tục học hành,nhưng chỉ vài tháng sau khi thi đậu Tú tài toàn phần ( Tú tài 2 ) lệnh tổng động viên tới tay,Thịnh đi vào quân đội,giã biệt thời áo trắng thư sinh trong nỗi ngẩn ngơ và tiếc nối.

Dễ chừng năm,sáu năm sau Thịnh bất ngờ gặp lại Sinh trong tình huống rất đặc biệt.Số là lúc ấy Đại đội bộ binh ( thuộc SĐ 1BB ) của Thịnh được bổ sung quân số sau tổn thất cuộc hành quân đánh vào mật khu A sao-A lưới.Viên Trung sĩ quân số đại đội nhận về 10 tân binh - trong đó có Sinh - và cho trình diện đơn vị  tại căn cứ La Sơn.Sau khi phân bổ những người khác đến các Trung đội,Thịnh giữ Sinh lại Ban Chỉ huy Đại đội làm y tá theo nhu cầu của đơn vị và chuyên môn của Sinh.Thịnh rất vui sau mấy năm xa cách  được cùng với bạn học đứng chung một chiến hào.Thịnh cũng rất ái ngại cho hoàn cảnh của Sinh lúc bấy giờ,bởi vì cạo sữa năm sinh để đủ tuổi thi vào cán sự y tế nên ngày ra trường người ta phát hiện, quy kết anh tội man khai lý lịch và bất phục tùng lệnh động viên,cho nên anh bị đưa vào trung tâm huấn luyện Đống Đa và đẩy ra đơn vị tác chiến.Sinh đã hơn một lần đào ngủ từ các đơn vị khác trước khi đến đây,nên Thịnh nghĩ quân đội không là nơi thích hợp với Sinh,với những người có tư tưởng phản chiến,hiểu sai lệch về công cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam chống lại sự xâm lăng của cọng sản quốc tế mà chủ lực, trực tiếp là đội quân mang hình hài,dáng dấp Việt Nam xuất phát từ miền Bắc.Thịnh thông cảm cho tình cảnh của bạn Sinh hiện nay nhưng bất đồng với những suy tư của Sinh về cuộc chiến.Sự bất đồng đó không chỉ bây giờ mà gần mười năm trước đây khi cuối năm đệ tứ,trong dịp chuyện trò giữa ba đứa bạn thân Tế-Sinh-Thịnh về tương lai,sự học hành,lý tưởng,về Quốc gia,cọng sản,miền Bắc miền Nam...Trong dịp đó và mãi sau này, Thịnh vẫn là người không thích Cọng Sản bởi Thịnh có đức tin Tôn giáo, có gia đình và Tổ quốc Việt Nam trong khi con người và lý tưởng cọng sản theo chủ nghĩa tam vô cùng với một thế giới đại đồng hoang tưởng.Thịnh không ngờ buổi chuyện trò bình thường đó là khởi điểm để ba người bạn thân chung- lớp-chung-trường rẽ về ba hướng khác nhau trên đường đời xuôi ngược,trong hoàn cảnh Bắc Nam nội thù và chinh chiến điêu linh.Cùng chung đơn vị,cho dù không cùng chí hướng,khác nhau cấp bậc và chức vụ nhưng Thịnh và Sinh vẫn tôn trọng,thương mến nhau,chí tình như thời học trò áo- trắng- quần -xanh.Họ cũng đã có gần nửa năm bên nhau,lội rừng băng suối trong các cuộc hành quân vùng Tây Nam Thừa Thiên -Huế,từ núi Sa Trúc,núi Kê,Động Truồi đến Đá Bạc,Lăng Cô tiếp giáp Hải Vân bốn mùa mây phủ.Những lần mắc võng giữa rừng già chuyện trò với bạn về ngày xưa thân ái quả là cơ duyên hiếm hoi, may mắn vô cùng.Những lần như thế Thịnh nhớ Phượng đến nôn nao, quay quắt.Hình ảnh Phượng ngồi hóng gió trên thành cầu Sãi trong chiều hè nhạt nắng nhiều năm ngỡ đã phai mờ trong tâm tưởng nhưng nay tái hiện giữa rừng già,trên bước quân hành vấn vương với dày sô áo trận gió bụi sa trường.Tóc Phượng bay trong gió chiều lao xao.Màu áo tím điệp với khung cảnh chiều tà, loáng thoáng vài tia nắng cuối ngày ngã nghiêng trên giòng sông hiền hòa trôi chảy.Hình ảnh đó thơ mộng và lãng mạn làm sao.Hình ảnh đó suốt đời Thịnh không quên được.

Trong chặng đời lính chiến,có được bạn Sinh cùng- lớp-cùng-trường nay cùng chung đơn vị quả là niềm vui nhưng thời gian bên nhau của Thịnh với Sinh không còn nữa.Khi hành quân vào mật khu Ba Lòng ( Quảng Trị ) đơn vị của họ giáp chiến với quân Bắc việt nhiều ngày,nhiều lần qua nhiều đồi cao,lũng thấp,địa danh khác nhau.Trận địa đáng nhớ nhất là Động Chó ( tên đọc trên bản đồ hành quân ) mõm núi cao mà đại đội Thịnh phải chốt giữ,thiết lập sân bay tải thương dã chiến.Sau một đêm bị pháo kích và hai lần tấn công dữ dội,đơn vị vẫn giữ vững phòng tuyến,đánh bật quân xâm lược Bắc phương nhưng bù lại chịu khá nhiều tổn thất.Nhiều chiến sĩ hy sinh.Nhiều chiến sĩ bị thương trong đó có Sinh.Buổi trưa hôm đó khi trực thăng tải thương đến,nhìn bàn tay phải băng kín của Sinh lốm đốm máu tươi và khói thuốc súng,Thịnh buồn bả nói  lời giã biệt với bạn mình.Thế là bạn Sinh đã thoát nợ binh đao.Với từng trải của lính chiến,khi phải mất đi những ngón tay bóp cò súng thì ý tưởng đào ngủ của bạn Sinh sẽ không cần thiết để tồn tại nữa.Quả thật sau đó không lâu hậu cứ đơn vị cho biết là bạn Sinh đã được giải ngủ.Sinh- ly- tử- biệt là chuyện thường tình của người lính tác chiến luôn đứng đầu- tên- mũi-đạn nhưng trong trường hợp thương tật giải ngủ của Sinh,Thịnh vẫn thấy lấn cấn,xa xót ở trong lòng.

Không có ai trong cả hai phe lâm chiến biết được ngày giờ,năm tháng cuộc chiến tương tàn ý-thức-hệ này chấm dứt,nhưng một khi đã chọn lựa chiến tuyến,đã tự nguyện chiến đấu dưới bóng cờ- vàng-đại- nghĩa để bão quốc an dân thì những người lính chiến cọng hòa đã mường tượng ra hai lối về ở cuối con đường hầm,một là hy sinh nơi sa trường trận mạc,hai là trở về hâu phương trên đôi nạng gỗ để nghe thời gian bào mòn tuổi thanh xuân hoa gấm của đời mình.Nghĩ như thế thì không còn sợ hải những lần lâm trận.Nghĩ như thế thì không còn vấn vương tư tưởng bạc nhược,phản chiến bởi những tuyên truyền xuyên tạc từ phía quân thù.Hơn thế nữa,khác với đội quân xâm lược vô-sản-quốc-tế xuất phát từ miền Bắc,quân đội Việt Nam Cọng Hòa chỉ trung thành với Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam,không bị chi phối,thống trị bởi bất cứ đảng phái,phe nhóm nào ở trong nước,không  làm tay sai cho thế lực ngoại bang .Rất tiếc lúc đương thời chính nghĩa đó đã không được chính quyền thời đệ nhị cọng hòa phát huy đúng mức,dẫn đến nghịch cảnh quân đội thì chiến thắng trên chiến trường mà miền Nam thì thất bại trên bàn hội nghị.Cuộc chiến đấu giữ nước của quân dân miền Nam thật sự đã thất bại ngay giữa lòng thủ đô Sài gòn,Paris,Hoa Thịnh Đốn,Thượng hải,Bắc kinh một khi những tài phiệt tư bản,cọng sản bắt tay phối hợp nhau kiến lập trật tự mới toàn cầu.

Trên đây là những suy nghĩ của Thịnh thời gian gần đây,khác với những uất ức,phẩn hận  Thịnh gánh chịu sau ngày mất Đà Nẵng 29 tháng 3 năm 1975 và 8 năm tù đày,10 năm quản chế sau đó dưới sự cai trị của Cọng sản Việt Nam.Điều rất bất ngờ là Thịnh được thấy lại Sinh vào khoảng đầu năm 1976 khi những 'cải tạo viên ' của trại tập trung cải tạo Hiệp Đức bị buộc phải đón tiếp và nghe thuyết giảng của phái đoàn chính phủ cọng hòa miền Nam Việt Nam - con đẻ của đảng cọng sản Việt Nam khởi nguồn từ miền Bắc.Phái đoàn 5 người trong đó có Sinh.Họ thuyết giảng về sự chiến thắng,về tài lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giải phóng miền nam,về bách chiến của chủ nghĩa Mac-lenin và giai cấp vô sản,riêng Sinh -đại diện cho thanh niên miền Nam-nói về thành tựu của phong trào hợp tác xã  miền Bắc khi anh được mời ra thăm thời gian vừa qua.Sinh còn tự nhận là người lính cọng hòa  " giác ngộ " sớm rời bỏ hàng ngủ "ngụy quân " trở về với "cách mạng" và nhắc nhủ với mọi trại viên là phải học tập,cải tạo tốt,thành khẩn khai tội trạng,tố cáo tội trạng của người khác cho dù người đó là bạn bè,đồng sự hay thân nhân.Thịnh ngồi nghe mà tức ói máu.Ôi! vận nước long đong,tình người điên đảo.Trong thế nước điêu linh thì gian hùng thời nào cũng có .Phải chi những lời đó nói ra từ Tế -một trong những bạn thân thời trung học-người đã "nhảy núi"  trước đây nghe còn được hơn là loại "cán bộ cách mạng 75 " nữa vời,xu thời như bạn Sinh bây giờ.Chính thể Việt Nam Cọng Hòa cũng đã nhiều lần điêu đứng bởi những tên hoạt-đầu-chính- trị,thay gió trở cờ,cơ hội chủ nghĩa.Trong khi những người lính tác chiến cống hiến máu xương,gục ngã giữa sa trường trận mạc để giữ yên bờ-cõi-sơn-hà,để em thơ ngày hai buổi đến trường và ruộng đồng ngát xanh màu lá mạ thì ở hậu phương nhóm người này tạo ra bất ổn xã hội,đâm sau lưng chiến sĩ,tranh dành chức tước,quyền lợi góp phần trong việc thất bại của miền Nam thân yêu.Để cho đến bây giờ hàng ngàn sĩ quan trẻ của quân lực VNCH phải nghe những con-vẹt-vô-hồn lập lại chính sách đấu tố,cải tạo của Cọng sản ở nước Nga,ở Trung Hoa và đặc biệt ở miền Bắc Việt Nam sau 1954.

Nếu như thân phận con người luôn gắn liền với vận mệnh dân tộc thì việc thất thủ của Việt Nam Cọng Hòa dẫn đến bao nhiêu hệ lụy cho Quân Dân Cán Chính của chế độ là lẽ đương nhiên.Có điều Thịnh không ngờ những người cọng sản chiến thắng đã thi hành một chính sách trả thù quá ư tàn bạo.Ngay cả nghĩa trang quân đội cọng hòa,mồ mả tổ tiên,nhà thờ,đình chùa miếu vũ đều bị người cọng sản đào bới,đập phá không lưu tình,không nương tay.Hào quang chiến thắng làm lu mờ lương tri hay duy vật chủ nghĩa đã làm tan biến đi nền tảng đạo đức của con người Việt Nam trung chính.

Trong tình huống đặc biệt này Thịnh không muốn chào hỏi bạn Sinh -"người chiến binh cọng hòa sớm giác ngộ trở về với cánh mạng" -mà có muốn cũng không được bởi những hàng vệ binh với súng AK trong tay sẳn sàng nhả đạn nếu trại viên nào bước ra khỏi vòng kiểm soát.Vã lại hai người bạn cũ bây giờ đang ở hai thế giới khác nhau mà trường xưa thì đổ nát,tan tành qua mấy mùa chinh chiến.Thịnh bất chợt nhớ lại buổi chuyện trò sau cùng của ba đứa bạn thân Tế-Sinh-Thịnh trước khi anh Tế và chị Xoa "nhảy núi".Với luận điệu rẽ tiền "kẻ thức thời là tuấn kiệt " của bạn Sinh lúc đó,đem áp dụng vào thời này quả là hay nhưng không có nhân bản và lương thiện chút nào.Luân lý và đạo đức của người Việt Nam không chấp nhận con đấu tố bức hại cha mẹ,vợ tố chồng và bạn bè chiến hữu, đấu tố lẫn nhau hoặc thấy-sang-thì-bắt-quàng-làm-họ.Thịnh luôn khâm phục và thích lối chọn lựa của anh Tế từ buổi thiếu thời,nhưng rồi không biết anh có buồn không khi nhìn ra một thực tế là những người cọng sản chiến thắng quá hấp tấp tiến lên chủ nghĩa xã hội, thế giới đại đồng,quốc tế vô sản mà phá hủy nền tảng đạo đức nhân nghĩa đã có từ lâu đời của dân tộc Việt Nam.Sự phá hủy  "triệt để " từ tinh thần cho đến cơ sở vật chất với phương thức đào-tận-gốc-trốc-tận-ngọn quả là hung hiểm và tàn nhẫn.

Trường xưa đã không còn nhưng chuyện về bạn cũ thì như cơn gió nghịch mùa thổi qua đáo lại.Thêm một cơ duyên nữa Thịnh gặp lại Sinh trong trại tù.Ba năm đầu ( 1975-1978 ) sau khi chiếm được miền Nam kẻ chiến thắng lùa hết Quân,Cán,Chính của VNCH vào các trại tù "tập trung cải tạo " và giao cho các đơn vị bộ đội “quản lý".Từ 1979 sự quản lý đó lại giao cho các đơn vị công an.Tháng tư 1979 những chiếc xe bịt bùng chở Thinh và  các "sĩ quan ngụy " đến trại tù A.Đ thì  bạn Sinh đã có mặt ở đó rồi.Bấy giờ Sinh không còn là "cán bộ 75 " mà là tù nhân chính trị, không dính dáng với "chế độ cũ" nhưng bị kết tội danh tuyên truyền chống phá cách mạng.Phải rồi,những trí thức khoa bảng-không phải là đảng viên cọng sản-tầm cỡ của Mặt trận và chính phủ cách mạng miền Nam còn bị cho ra rìa sau hiệp thương Bắc-Nam 1976 huống hồ chi một "cán bộ 75 " tép riu như bạn Sinh thì người ta bỏ tù lúc nào mà không được.Thật sự ở trong trại tù Cọng sản,những tù nhân khác đội,khác khối (ngụy quân,ngụy quyền,hình sự..) không được tiếp xúc chuyện trò với nhau,nhưng dù khó cách nào thì Thịnh cũng có đôi ba lần  gặp và chuyện trò với Sinh.Với những thành tích như biểu tình chống chính phủ miền Nam,đôi ba lần đào ngủ,tham gia phong trào hòa giải dân tộc, kêu gọi sĩ quan,viên chức chính quyền VNCH ra trình diện sau khi Đà Nẵng thất thủ...bạn Sinh đã được 'cách mạng' chú ý,nâng đỡ,cho đi miền Bắc 'tham quan ' và cho đi truyền đạt,tuyên truyền những thành tựu xã hội chủ nghĩa của miền Bắc cho dân chúng miền Nam và trại viên ở các trại tù "tập trung cải tạo ".Những điều Sinh nói với đồng bào miền Nam hoàn toàn  là bịa đặt,nói-theo-đơn-đặt-hàng,trái ngược với những gì mà Sinh nhìn thấy,nghe được,chứng kiến tận mắt trong 10 ngày "tham quan "miền Bắc đầu năm 1976.Sự thực lúc bấy giờ miền Bắc đã đến hồi kiệt quệ.Dân chúng đói khổ lầm than.Tem phiếu thực phẩm nhà nước không có để ban phát cho cán bộ và nhân dân thì lấu đâu ra "cơ sở vật chất' để đi lên hợp tác xã cấp huyện ? Nhân dân thủ đô Hà Nội nhà nào cũng nhận lệnh may cờ trắng để đầu hàng khi những trận không kích Hà Nội Hải Phòng của Hoa kỳ trở nên khốc liệt.Một cuộc chiến trớ trêu.Người dân miền Nam đang sống trong no đủ,ấm êm bất ngờ được hay" bị giải phóng"  thành bên thua cuộc,trở nên chia lìa,ly tán và đói rách thảm thương.Người dân miền Bắc vốn đã hơn 10 năm tang thương dưới chế độ  "Việt Nam dân chủ cọng hòa ' thì nay họ bàng hoàng khi nghe tin thắng trận và trở nên là bên thắng cuộc.Con đường giải phóng miền Nam thành công qua sự lót đường, hy sinh mấy triệu thanh niên  miền Bắc.Vậy thì con đường đi lên xã hội chủ nghĩa,đi lên thế giới đại đồng còn bao xa và dân tộc Việt Nam còn phải hy sinh bao nhiêu nữa để thỏa mản cuồng vọng của người cọng sản ? Chính những suy tư đó và những kể lại cho thân nhân bạn bè về sự thật Sinh nhìn thấy ở miền Bắc là lý do " chống phá cách mạng " nên Sinh phải vào tù.Trong cuộc đổi đời bi thảm của người dân miền Nam thì sự bon chen và kết quả của bon chen kiểu na ná như trường hợp bạn Sinh nhiều lắm. Nhiều không đếm được.Động lực để Sinh bon chen là kiếm 'thành tích" để cho vợ mình -cô giáo tốt nghiệp trường sư phạm Quy Nhơn-được "lưu dung" trong chế độ mới.Hóa ra cô giáo sư phạm Quy nhơn là Mai,bạn thân trong nhóm Tướng-Sĩ-Tượng-xe-pháo-mã thuở nào.

Trong mấy năm ở tù cùng trại với Sinh,có một lần duy nhất Thịnh được gọi ra "nhà thăm nuôi " để gặp thân nhân. Người đến nuôi chồng và thăm bạn là Mai,bạn cũ dễ chừng 15 năm mới gặp lại.Trong thời gian và quy chế thăm nuôi ngặt nghèo của trại giam gặp được Sinh - Mai,với Thịnh quả là vinh hạnh.Nhìn nước mắt của Mai lăn dài trên má, Thịnh nuốt ực những cảm xúc đang trào dâng ở trong lòng.Thời gian,hoàn cảnh cơ cực có làm cho ba người bạn thân xơ xác,tả tơi đôi chút nhưng tình bạn thì sẽ không bao giờ muôn năm cũ.Quả vậy,những năm tháng tù đày thỉnh thoảng Thịnh vẫn nhớ tới,nghĩ về bạn bè thời trung học.Nhớ Phượng da diết.Nhớ đến mối tình "..yêu-chi-lạ,đã nhiều lần muốn ngõ..Nhưng vào đề khó quá đành làm thinh.Hoa sứ sân trường đổi lá thay tên.Mà tình thư ngại ngùng không dám gởi". Có lần kéo bè gỗ dài thòng và nặng chịch trên sông Vàng Thượng Đức về đến trại A.Đ Thịnh liên tưởng đến lần đi học bị chìm đò vào năm đệ tam.Năm đó vào khoảng tháng tám âm lịch,cơn lũ đầu mùa bất chợt đến.Nước sông Thạch Hãn dâng cao.Đập Rù rÌ ngập nặng.Người người từ chợ sải lên chợ Tỉnh.Học sinh từ phía Triệu Thành đến trường Nguyển Hoàng phải đi đò.Con đò năm đó chở Thịnh,Phượng,nhiều bạn và nhiều người khác không may bị chìm giữa giòng.Với bản lĩnh của hướng đạo sinh,với ngón nghề thành thạo bơi lội,sông nước Thịnh đã đưa Phượng vượt thoát vòng nguy hiểm trong gang tấc.Hai đứa ướt-như-chuột-lột.Sau hoàn hồn bởi sợ hải thì đến lúc Phượng e thẹn,mặt mày đỏ bừng.Phượng lại còn mắng yêu Thịnh sao trong lúc mọi người gặp nguy nan mà bạn chỉ cứu  Phượng mà thôi.Thịnh bông đùa cho qua chuyện."Thưa cô nương.Dẫu biết là nam-nữ-thọ-thọ-bất- thân,nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo thì cũng nên thông cảm,còn việc không chọn ai trong nhiều người bị nạn,âu đó là duyên phận".Có thật là duyên phận hay không,nhưng đã bao năm rồi không gặp mà hình ảnh Phượng-ướt-như- chuột-lột,mặt mày đỏ bừng vẫn đậm mãi trong tâm hồn của Thịnh.Hình ảnh đó và nỗi nhớ mênh mang thêm một lần tái hiện trên con nước sông- Vàng- nắng-đục-mưa-trong,trong hoàn cảnh khổ nhục đến tận cùng của người tù cải tạo.

Rồi cũng đến lúc Thịnh được ra khỏi trại tù trở về nguyên quán là quê nhà Quảng Trị.Mười lăm năm rời xa quê cũ,nay trở về tất cả đều lạ lẫm.Tất cả đều tan hoang.Trường xưa Nguyển Hoàng chỉ còn lại cổng trường gãy đỗ.Trường T.P hoàn toàn mất hẳn dấu tích.Ở nơi đó bây giờ có con kênh thủy lợi băng ngang và dân làng Nại Cữu  trồng nhiều khoai sắn.Cầu Sải vẫn còn vắt ngang sông đào Vĩnh Định,nhưng coi bộ đã quá già nua,vật vã ngóng chờ tri âm đến mỏi-mòn-con-mắt.Quê cũ vẫn còn đây mà người xưa đang trôi dạt phương nào.Thịnh có cơ may gặp lại chị Xoa.Chị bấy giờ là giám đốc ngân hàng nông nghiệp tỉnh.Anh Tế thì đã hy sinh năm 1972.Thịnh cũng được chị Xoa dẫn đến nhà anh Tế,được thắp nén hương trên bàn thờ trước di ảnh của anh.Bức ảnh cuối năm học đệ ngủ thầy PH chụp cho mỗi học sinh của lớp.Ngôi nhà- rường- ba- gian bên giòng sông Thạch hãn của anh Tế nay đã khác xưa,nhưng vườn tược hoa màu vẫn còn dáng dấp ngày cũ.Nơi đây ngày xưa nhóm bạn 6 người cứ mỗi hè về hay dịp cuối tuần thường họp mặt.Tắm sông.Nấu chè.Làm bánh bột lọc. Bẫy cu và hái sim.Trái sim Như Lệ ngọt lịm như đường phèn mà tình bạn,tình quê thì keo sơn thắm thiết.Quốc gia.Cọng sản.Miền Bắc.Miền Nam.Tất cả chỉ là giai đoạn.Bên thắng,bên thua  tựa như hai bờ Thạch hãn lúc lỡ lúc bồi theo vận nước,không ai thắng vĩnh viển,không ai thua muôn đời.Tất cả rồi sẽ qua đi,chỉ còn lại tình bạn,tình người Quảng trị là miên viễn.

Thịnh mang theo mối tình quê mộc mạc chân chất đó đến tận Hoa kỳ.Tiểu bang nào có người Quảng Trị thì đều có Hội Ái hữu đồng hương.Nơi đâu có Thầy cô,đồng môn Trung học Nguyển Hoàng thì đều có nhóm hay phân hội Nguyển Hoàng tương ái.Đó là nét đặc thù, là truyền thống văn hóa của người Quảng Trị ở những nơi tạm dung.Thịnh cũng rất vui mừng khi biết cặp Sinh- Mai bên gia đình chị Mai bảo lãnh đoàn tụ đã đến Mỹ.Bạn Sinh cũng đã tham gia nhiều hoạt động và tổ chức đấu tranh tại hải ngoại này.Dù xa quê đến nữa vòng trái đất nhưng lúc nào Thịnh cũng cảm thấy ấm áp bởi tình người từ những bạn bè lớp- bông-sứ và tam quậy ngày xưa,từ những chiến hữu đã một thời kề vai trên chiến tuyến,từ những bạn tù đã từng chia nhau miếng khoai,cũ sắn trong khốn khó,nhục nhằn...Thịnh cũng đang kiếm tìm,khát khao tìm hình bóng luôn hiện hữu trong tâm khảm của mình qua bao chặng thăng trầm của cuộc đời .Phượng ơi,bây giờ bạn ở đâu ? Có lẽ trong số bạn bè ở Mỹ thì Sinh là người tâm sự,chuyện trò với Thịnh nhiều nhất.Qua Mỹ sau Thịnh có vài ba năm nhưng bạn Sinh đã nhanh chóng hội nhập,nhất là mau hòa nhập với cao trào đấu tranh dân chủ nhân quyền cho Việt Nam...Đó cũng là ước vọng của nhiều người.Với Thịnh cuộc đấu tranh này không dựa trên những hận thù quá khứ,không bị quyến rũ bởi danh vọng hão huyền.Là cuộc đấu tranh chống độc tài,đảng trị.Là cuộc đấu tranh của đa số người yêu nước chống lại thiểu số người bán nước.Ngày nay cờ Vàng-ba-sọc-đỏ đôi lần xuất hiện tại Cần Thơ,Hà nội,Sài Gòn và đang phất phới tung bay ở hầu hết các quốc gia tự do trên thế giới,rực rỡ trong lòng dân Việt ở trong nước cũng như hải ngoại.Đó là ngọn cờ chính nghĩa,biểu tượng cho cuộc đấu tranh mất còn của dân tộc Việt Nam với chế độ độc tài,độc đảng đang hoành hành bá đạo tại quê nhà.

                                      " Bao cay đắng ngậm ngùi ta vẫn nhớ...

                                         Vững niềm tin đi dưới bóng cờ Vàng.

                                         Dù có thăng trầm thế sự đa đoan

                                         Với tiết tháo của ngày xưa trận mạc"

            BẢO - NGUYÊN

   Denver.Tháng giêng năm Giáp Ngọ 2014

  

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

   

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 22 Apr 2017 09:14 AM