Các bài Văn trong
đề mục Thơ Văn
theo thứ tự thời gian

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Tháng 01 năm 2011

Tháng 02 năm 2011

Tháng 03 năm 2011

Tháng 04 năm 2011

Tháng 5&6 năm 2011

Tháng 07 năm 2011

Tháng 08 năm 2011

Tháng 09 năm 2011

Tháng 10 năm 2011

Tháng 11 năm 2011

Tháng 12 năm 2011

 

Tháng 01 năm 2012

Tháng 02 năm 2012

Tháng 03 năm 2012

Tháng 04 năm 2012

Tháng 05 năm 2012

Tháng 06 năm 2012

Tháng 07 năm 2012

Tháng 08 năm 2012

Tháng 09 năm 2012

Tháng 10 năm 2012

Tháng 11 năm 2012

Tháng 12 năm 2012

 

Tháng 01 năm 2013

Tháng 02 năm 2013

Tháng 03 năm 2013

Tháng 4&5 năm 2013

Tháng 06 năm 2013

Tháng 07 năm 2013

Tháng 08 năm 2013

Tháng 09 năm 2013

Tháng 10 năm 2013

Tháng 11 năm 2013

Tháng 12 năm 2013 

 

Tháng 01 năm 2014  

Tháng 02 năm 2014 

Tháng 03 năm 2014 

Tháng 04 năm 2014

Tháng 05 năm 2014

Tháng 06 năm 2014

Tháng 07 năm 2014

Tháng 08 năm 2014

Tháng 09 năm 2014

Tháng 10 năm 2014

Tháng 11 năm 2014

Tháng 12 năm 2014

 

"De Père Inconnu"

Người Cha vô danh

Nguyễn Thái Hảo

Kính gửi quý vị ở Dà Lạt

Viết gởi tác giả “De père inconnu” Đã đọc xong từ lâu, sau đây là vài nhận xét, ý kiến, ghi lại “à batons rompus” chia xẻ với tác giả. Trước tiên, có lời khen tác giả đã thực hiện được một “chef d’oeuvre”, chưa đọc tôi đã có linh tính nó sẽ là tuyệt tác vì sự ngưỡng mộ của tôi đối với tác giả đã có từ lâu.

Sau gần một thập niên công lao, trải qua những chướng ngại thủ tục, cản trở hành chánh, và mọi thứ khó khăn chồng chất, “ le parcours du combattant”, tác giả đã kiên trì, không nao núng, lặn lội khắp nơi, tốn kém, nhất quyết phải tìm cho bằng được, coi ngã ngũ ra sao, và cuối cùng đã xác nhận đươc danh tánh, chức phận, ngày giờ và trận địa nơi người sĩ quan “infanterie coloniale” đã bỏ mình “sur les champs d’honneur”.

Kết quả mỹ mãn đã đưa đến cho tác giả sự hài lòng của một “mission accomplie”, một phần thưởng cá nhân rất xứng đáng. Một công trình đáng khâm phục. Cho điểm: 9 ½ trên 10.

Cũng nên nhìn nhận công trình lao tâm lao lực này là một hành vi báo hiếu của người con đối với cha mẹ, “un acte de piété filiale”.

Dalat là quê hương tôi, sanh đẻ tại Dalat. Năm 1947-1948 học trường Adran một năm, classe de dixième, còn nhớ tên thầy Adrien, không nhớ rõ là thầy giáo hay là surveillant , sau đó đi học ở Saigon. Mỗi năm vẫn được về Dalat nghỉ hè ba tháng: “Chín mươi ngày nhảy nhót ở “rừng thông” “Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ” Cầu Bá Hộ Chức, bánh mì Vĩnh Chấn, đường lò gạch có cư xá của thầy Ninh, dốc nhà thương, phở Eden, Hồ Xuân Hương, “la grenouillère”, dốc nhà bò, trường Trí Đức, hồ Than Thở, Saint Benoit, v.v… bao nhiêu địa danh quen thuộc, bao nhiêu kỷ niệm không bao giờ quên.

Đọc PHẠM NGỌC LÂN tôi đã sống lại suốt cả một thời “tuổi vàng”quá đẹp tại xứ hoa anh đào, xứ mimosa. Trở về Dalat học Lycée Yersin, seconde classique B (latin), première, terminale, baccalauréat 2è partie, série philosophie, juin 1959.

Suốt thời gian này không có dịp “đụng độ” với PHẠM NGỌC LÂN Gaillard. Có leo núi Langbiang 3 lần. Có đi Ankroet coi suối vàng. (Ghi chú: tại Museum of Natural History, Smithsonian Institute, Washington DC có một phân khoa trình bày về cái “suối vàng” Dalat này) . Có đi camping ở thác Pongour. Có nhiều lần đi Phan-rang qua đèo Bellevue “ngoạn mục”. Trà Đỗ Hữu Blao, cà phê cứt chồn là những mùi vị của quá khứ, ngày nay nghe thêm chuyện buôn lậu trà Bảo Lộc.

Khen bạn biết gói bánh chưng, một tài nghệ khó kiếm. Trung tâm Clichy cũng có nhiều năm nấu bánh chưng ăn tết, các bà thay phiên nhau canh nồi nước suốt đêm, không nhớ bạn có dịp tham gia không? Con cóc đeo sợi giây đỏ lần mò, lặn lội suốt năm cây số tìm đường về tới nhà. Chuyện lạ có thật và xứng đáng ghi vào “Livre des records”.

Tôi có được hưởng cái thú vị di chuyển ngồi trong cái thúng cho mẹ tôi gánh vào rừng chạy giặc trốn quân đội Nhật Bổn chiếm Dalat, lúc đó hai ba tuổi đã biết đi chập chững. Những đoạn viết về bà mẹ đảm đang, bương chãi, làm lụng vất vả suốt năm suốt tháng, hy sinh bản thân để bao bọc con cái, giữ vững gia đình thì thật là cảm động, và có thể coi đó là hình ảnh tiêu biểu cho bà mẹ Việt Nam, nhất là trong thời đât nước trầm luân trong khói lửa chiến tranh. 18-Dec-15 Page 2 Cảm động và khâm phục người con cả, người anh hai trong gia đình đã một tay chăm nom đàn em, hướng dẫn dìu dắt “bầy nhỏ” phụ với mẹ bận bịu làm ăn, buôn bán, đầu tắt mặt tối suốt ngày.

Một ngày đẹp trời “le jeune Gaillard” được chính phủ đương thời cho học bổng đi Pháp học, căn cứ trên học bạ xuất sắc luôn luôn ‘premier dans sa classe”. Một dịp may hiếm có, một món quà trên trời rớt xuống, nhất là ở thời đất nước còn bán khai, bao nhiêu gia đình, bao nhiêu thanh niên mơ ước được đi Tây học, sau này đỗ đạt, thành tài về giúp nước, giúp gia đình, làm vẻ vang cho giòng họ. Tôi tin chắc thời gian này bạn đã trải qua bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm đăm chiêu, suy nghĩ, đắn đo, cân nhắc, mất ăn mất ngủ, và rồi cuối cùng đã can đảm quyết định bỏ qua cơ hội ngàn vàng, tương lai rực rỡ, để ở nhà cặm cụi giúp mẹ, lo cho các em.

Thêm một điểm son nữa ghi vào tiểu sử PHẠM NGỌC LÂN. Di cư từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc, Hànội Saigon, Saigon Hanoi, Phan Rang, Đà Nẳng, Quảng Trị, ra tới cầu Bến Hải, Dalat, Bảo Lộc, Kontum, Saigon… và nhiều địa danh khác nữa…

Cuộc đời PHẠM NGỌC LÂN thăng trầm tương tự như những giai thoại “odyssey” trong văn chương cổ điển tây phương …người anh hùng bị hoàn cảnh, thời thế phiêu bạt “cuốn theo chiều gió” lăn lộn khắp nơi “de Charybde en Scylla” và cuối cùng cũng đã thành công về tới bến yên lành…“happy ending”.

Tôi đi Saigon-Dalat, Dalat-Saigon rất nhiều lần bằng xe Minh-Trung, xe đò, xe nhà, chưa bao giờ nghe nói hoặc thấy có tên anh hùng hảo hớn nào gan dạ, xâm mình, dám đi xe Vespa 300 cây số Saigon-Dalat, đường xá hiểm trở, lên đèo xuống dốc, hang lỗ, ổ gà ngập nước, đơn phương độc mã, bất chấp Việt cộng đắp mô, gài mìn, chận đường bắt cóc lôi vô bưng, dân vệ gác trục lộ giao thông hạch sách làm tiền, xe bể bánh, hết xăng giữa rừng âm u, và trăm thứ hiểm nghèo khác nữa…. Thế mới hiểu “tiếng gọi con tim”. Đi đi về về bao nhiêu lần? nên ghi vào lịch sử “love story”.

Tất cả các biến cố đưa đến mất nước 4/1975, những năm sôi động lật đổ Ngô Đình Diệm, xáo trộn xã hội, các biến chuyển chinh trị, kinh tế đảo điên, và thảm cảnh cuối cùng là dân Việt Nam bị trùm lên một chế độ độc ác vô luân gọi là Việt cộng, tác giả đã ghi kỹ lưỡng với đầy đủ chi tiết, sẽ rất cần cho những ai muốn biết và tìm hiểu về Việt Nam trong giai đoạn nhiễu nhương này. Những danh từ: học tập, kinh tế mới, kiểm kê, v.v.. muốn hiểu rõ cần đọc PHẠM NGỌC LÂN, một tài liệu lịch sử quý giá.. Cuối cùng, sau khi kiểm điểm lại tất cả các biến cố chính trị, các tình huống cá nhân, các hoàn cảnh éo le, xã hội xáo trộn liên miên, chiến tranh không ngừng, chém giết, chia ly, hận thù, tác giả đã gom góp đầy đủ mọi yếu tố để vẽ lên bức tranh trung thực của Việt Nam qua hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Nếu gói ghém tất cả các nhân vật và hoàn cảnh này vào khuôn khổ một cuốn tiểu thuyết thì tác phẩm này gồm đủ mọi đức tính để xếp loại ngang hàng với: “Gone with the wind” và lẽ dĩ nhiên sẽ thu hút biết bao nhiêu độc giả mà tâm trí vẫn còn lây lất với chiến cuộc Việt Nam vừa qua.

Những người bàng quan hay các giới trẻ không biết Việt Nam từ trước, khi đọc cuốn tiểu thuyết này sẽ bị đánh động, lôi cuốn, và trầm mình vào với thời cuộc sâu đậm hơn là đọc cuốn hồi ký. Chỉ là một ý kiến thôi. Sau khi phát hành cuốn “De Père Inconnu” cuộc sưu tầm vẫn tiếp tục. Giai đoạn cuối cùng này cũng không kém vât vả, oái ăm, bực bội, nhưng mà nhiều may mắn hơn và gặp được quới nhân giúp đỡ. Chẵng bao lâu thì tìm ra cái chìa khóa mở cái “thùng kho vàng”: đó là chữ “C “ thay vì chữ “G” như đã lầm lẫn từ 70 năm nay.

Một cái ngoạch trên chữ viết tay đã làm thay đổi cả một cuộc đời. Bây giờ không còn Gaillard PHẠM NGỌC LÂN nữa mà phải gọi là CAILLARD PHẠM NGỌC LÂN. Những chi tiết này được ghi trong phần phụ bản. 18-Dec-15 Page 3

Thành thật chia mừng cùng bạn vàng đã tìm được người cha “connu”, hội nhập đại gia đình CAILLARD. Suốt một con giáp cực nhọc vất vả, bao nhiêu công lao đổ ra đã kết thúc bằng một thành quả vẻ vang “apothéose” : đại gia đình Caillard đã hân hoan mở rộng vòng tay đón tiếp nồng hậu người con lưu lạc từ 70 năm nay. PHẠM NGỌC LÂN và gia đình 10 người đã được chính thức ghi vào gia phả CAILLARD. Có dịp gặp nhau sẽ hàn huyên thêm.

Nguyễn Thái Hảo, độc giả “De Père Inconnu”.

 

 ooo0ooo

 

Nhơn đọc quyển Cha Vô Danh

của tác giả Phạm Ngọc Lân

Nguyễn Thị Cỏ May 31/07/2015 www.vietbao.com

 

Bìa sách.


Hôm nay, mình không biết phải nói với tác giả bao nhiêu lời xin lỗi cho đủ vì nhận được quyển De Père Inconnu – Cha Vô Danh của Anh ngay từ những ngày đầu sách vừa phát hành mà vẫn giữ im lặng, không một lời cảm ơn cho đúng lúc vì vẫn có ý định sẽ cố gắng viết vài lời về quyển sách sau khi đọc xong. Phải cố gắng vì mình không có khả năng nhận định giá trị quyển sách cho đúng mức, lại càng không có khả năng phê bình văn chương chữ nghĩa. Mà đã lỡ thật lòng có ý định với bạn như vậy…


Cách nay vài hôm, mình tình cờ đọc truyện ngắn “Nghé tìm trâu”. Đó là một truyện kể về một Luật sư trẻ người Việt Nam ở Huê Kỳ đi tìm cha.


Một hôm, vào một tiệm tạp hóa gần văn phòng làm việc, bất chợt trông thấy một cái lon để gần “két” để quyên góp chút ít giúp thương phế binh ở Việt Nam, anh hỏi về cái lon và việc quyên góp có kết quả khả quan hay không. Người chủ tìệm cảm thấy hơi khó chịu vì nghĩ phải chăng anh luật sư trẻ này có ý nghĩ về việc quyên góp như vầy là không hợp pháp?


Thấy thái độ của chủ tiệm, anh vội giải thích là cha của anh là một quân nhơn mất tích trong chiến tranh Việt Nam mà từ khi sanh ra, anh chưa hề thấy mặt. Anh chỉ nghe mẹ kể lại là cha của anh là một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến, đi đánh trận ở Miền Trung và từ đó không trở về. Đơn vị cho biết có nhiều người mất tích vì chết không lấy được xác. Ngày nay, anh chỉ còn tấm hình mờ nhạt của người cha. Anh vội đưa ra cho người chủ tiệm coi và nói “lúc nào, khi có cơ hội, cháu cũng hỏi thăm các chú, các bác, bạn của cha cháu, về tin tức của cha cháu. Cháu biết là không phải sẽ tìm được cha. Cháu chỉ muốn thu thập được nhiều chuyện về cha của cháu để cháu có thể hình dung được rõ nét về người cha mà cháu chưa hề biết mặt.


Sau vài trao đổi, người chủ tiệm cho biết chính ông là bạn cùng khóa với cha của cậu thanh niên. Sau đó, ông liên lạc được nhiều bạn Thủy Quân Lục Chiến khác để một hôm tổ chức một bữa hội ngộ. Cậu thanh niên và bà mẹ tới tham dự. Mọi người đều vui mừng gặp lại gia đình người bạn mất tích. Riêng cậu thanh niên và bà mẹ vừa cảm động, vừa mãn nguyện như hôm nay tìm lại được người thân mất tích từ mấy chục năm qua.


Đọc xong chuyện “Nghé tìm trâu”, mình thấy không thể nào tự “hẹn” thêm được nữa mà không viết vài lời về quyển sách “Cha vô danh” hay, đúng hơn “Tôi đi tìm cha” của tác giả Phạm Ngọc Lân.


“Cha vô danh” hay “Cha không bìết”


Về cái tựa, nhiều tác giả giới thiệu quyển sách cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Họ
đề nghị dịch ra tiếng Việt cho phù hợp với hoàn cảnh của tác giả hơn, hay nói cho đúng hơn, rõ nghĩa hơn. Anh Lân, trong phần trả lời Đài phát Thanh RFI, có nói tại sao anh viết “Cha vô danh” vì trong khai sanh lúc đó, ở cột dành cho người cha, một khi không khai được tên người cha thì theo thủ tục hộ tịch, phải ghi “Cha vô danh – De père inconnu”. Đây là đúng theo văn tự hành chánh Pháp-Việt lúc trước 1954.


Nhưng nếu để ý, lắng đọng lại một chút, người ta sẽ cảm thấy “De père inconnu” như có một sức mạnh, tuy không mãnh liệt lắm, nhưng đủ làm cho người đọc như bỗng bị “giựt mình” phải để tâm vào quyển sách nhiều hơn. Không phải gợi cảm mà như níu kéo người đọc phải dành nhiều chú ý hơn vào tác phẩm.


Cũng không nhứt thiết người cầm quyển sách phải cùng trường hợp với tác giả.


Phải chăng vì người ta không thể thiếu vắng cha? Cha là người xác định sự hiện hữu của mình giờ đây và ở đây.


Một nhà tâm lý học người Nhựt - rất tiếc mình quên tên vì tên Nhựt cũng khó nhớ - đã quả quyết

“Người ta, ai cũng có nhu cầu phải có cha. Nếu không có cha thì phải đi tìm cha. Cha ghẻ, cha nuôi cũng được”. Tìm cha, phải chăng để cho tâm thức được quân bình trở lại?

Đọc “De père inconnu” để thấy thương anh Phạm Ngọc Lân. Anh dành nhiều thì giờ đi lục tìm tông tích của cha từ các trung tâm tài liệu dân sự và quân sự của thời Pháp ở Đông Dương. Sau đó, anh lần về Việt Nam, từ Sài Gòn, Đà Lạt, Cam Ranh, ra Bắc, hy vọng thu thập được chút thông tin nào về người cha mà anh chưa từng biết mặt. Thật ra, về Việt Nam là để sống lại những kỷ niệm cũ. Với thời trẻ của anh, với gia đình gồm 9 người em trai gái, với người mẹ và người cha kế. Một thời trẻ có vất vả vì chiến tranh nhưng vẫn được đầm ấm về mặt tình cảm. Chính nhờ mái ấm gia đình là chỗ dựa vững chắc đã giúp anh tiến thân vượt bực, và tiến xa, trên nhiều địa hạt. Và cũng chính nền tảng tình cảm quí báu này đã xây dựng ở anh những tình cảm đẹp, chơn thật với bạn bè, và nhứt là đem lại cho anh một mái ấm gia đình hạnh phúc như anh hiện sống.

Đọc “De père inconnu” sẽ thấy anh Lân là người đa tình – nghĩa là tình đối với gia đình và cả tình đối với “bạn bè” - nhưng anh lại tự giới hạn ở một chừng mực nào đó. Trong sách, ở nhiều chỗ, người đọc bắt gặp anh rất giàu tình cảm, giàu cảm súc, nhưng anh lại diễn tả tình cảm của anh như có một qui ước phải tôn trọng. Chính điều này lắm khi làm cho người đọc bị hụt hẫng.

Yêu nhau là định mệnh

Xưa nay, người ta nói vợ chồng là do “định mệnh” an bài. Ông bà Lân và Mỹ Lan, trái lại, yêu nhau là hoàn toàn do định mệnh điểm đúng tên họ, rồi sau đó mới dẫn tới tình vợ chồng cho tới ngày nay.

Tác giả sanh ra trong Sài Gòn nhưng đã ra Hà Nội, vỉ “nửa kia” của anh vừa chào đời! Hai người từ nhiều năm là láng giềng gần vì cùng ở trên đường Graffeuil??, Đà Lạt. Trong nhiều năm dài nhà người nọ gần trường người kia! Họ đi học chung con đường mỗi ngày vậy mà họ chưa hề quen biết nhau. Chưa từng gặp nhau, cả trông thấy nhau lúc đi ngang qua đường. Có lạ không? Trừ phi Cụ Lân lúc đó đã nhiều lần lấp ló ngang qua nhà nàng mà không dám ra mặt vì bản tánh không can đảm lắm. Như nhiều lần thân thiện với bạn gái trước đó để rồi:

“Đưa người, ta không đưa qua sông,

Mà sao có tiếng sóng ở trong lòng”

Thơ Thâm Tâm!

Nhưng khi đã yêu, anh Lân bỗng trở thành con người phi thường. Con đường Sài Gòn-Đà Lạt dài 300km, anh coi như pha. Vìệt cộng phục kích, gài mìn, đắp mô, thú dữ ở hai bên rừng, anh không chút ngần ngại, một mình lái Vespa lướt gió thâu ngắn đoạn đường mà xe đò phải mất 8 giờ. Để thăm nàng!

Từ đó, gần như mỗi ngày, đôi khi nhiều lần trong ngày, anh viết cho người yêu một bức thư. Bức đầu tiên được trích dẫn đề ngày 11/11/1968. Bức cuối cùng trong sách vào tháng 7/1969. Nếu đem tất cả những bức thư tình của anh xếp theo chiều dài không biết có phủ kín đoạn đường Vespa của anh không? Còn nếu đem đo chiều sâu của tình yêu thì phải nói tình yêu của anh chị Lân quả thật là sâu thăm thẳm như lòng Đại dương.

Còn gì bằng!

Lính “Babylac”

Đọc “De père inconnu” để có dịp thoải mái sống lại những kỷ niệm thân yêu của Sài Gòn một thời. Đây là những kỷ niệm đẹp vô cùng. Nó có hồn vì Sài Gòn lúc bấy giờ là nơi có nhiều biến cố thu hút cả thế giới nhìn vào và bất cứ ai xa Sài Gòn cũng mang theo hình ảnh, kỷ niệm của thành phố đã từng là thủ đô cũa nước Việt Nam Cộng Hòa

Tết Mậu thân, Việt Cộng tràn vào Sài Gòn nhưng người dân Sài Gòn vẫn ăn Tết tỉnh rụi. Dân đốt pháo. VC bắn AK. Cho tới khi biết VC tấn công thì VC ở yên trong chỗ ẩn núp vì ngơ ngác không biết đường xá. Như chuột chù (la taupe) ra khỏi hang.

Một số khác đành tháo lui trước đà phản công của quân đội Quốc gia. Dân Sài Gòn còn đi ra đường tìm VC coi cho bìết vì xưa nay chỉ nghe nói VC là những người răng đen mã tấu, cả năm người đeo cọng đu đủ không gãy!!!

Nay đọc Phạm Ngọc Lân bắt gặp “Lính Babylac”, tức hiệu sữa bột nuôi trẻ nít, để chỉ sinh viên Sài Gòn –sau biến cố Mậu Thân1968 - được kêu gọi mặc đồng phục màu vàng đất nhạt, đầu đội calot, lãnh súng carabine nhưng không được phát đạn, với ba-lô, lên đường ra chìến trường tận… Chợ Lớn, leo lên nóc mấy chung cư, canh chừng VC!

Những người “lính sữa” đó về sau đã trở thành những người phục vụ đắc lực cho Chánh phủ Sài gòn để rồi sau biến cố 1975 đã đồng loạt vào tù Cộng Sản. Ông Dược sĩ Việt lai Pháp Phạm Ngọc Lân đang dạy ở Đại Học cũng trở thành người “có tội với nhân dân” theo cái nhìn của chính quyền mới và cũng cùng anh em bè bạn đi vào trại tập trung! Nghĩa là chuyện đời mặn ngọt, chua cay, món gì anh cũng trải qua nhưng chỉ kịp vừa đủ thắm!

Nét đặc biệt

Đọc “De père inconnu”, phải đọc mới được, để sống lại, không phải riêng Sài Gòn, mà cả Miền Nam, cả nước Vìệt Nam, với lịch sử đất nước, với nhiều nét văn hóa đặc thù, ở thành phố, ở thôn quê, nếp sanh hoạt của người dân đầy ắp tình người với tấm lòng đôn hậu, …Về những biến cố chánh trị, người đọc có thể có cả kho tài liệu trải dài trong hậu bán thế kỷ XX. Về phần này, tác giả, vì với dự tính làm luận án Tiến sĩ Sử học ở Đại học Paris VII, nên cung cấp cho độc giả những ghi chú về nguồn tài liệu có giá trị và rất chi tiết.

Một chút nhận xét riêng của người đoc

Đọc qua “De père inconnu”, ai cũng sẽ đồng ý tác giả Phạm Ngọc Lân là một người “Vìệt Nam hơn Việt Nam”!

Anh Việt Nam từ trong cách suy nghĩ, cách diễn tả tuy anh viết bằng tiếng Pháp. Không lúc nào có thể bắt gặp anh mất cái hơi hướng Việt Nam. Có lẽ nhờ cái “bệ Việt nam” vững chắc này mà anh như hỏa tiễn được phóng bay xa.

Phần nhiều người Pháp-Việt/Việt-Pháp mang nặng mặc cảm mình không phải người Việt Nam mà cũng không phải người Pháp, bên nội không nhìn, bên ngoại chối bỏ, thường phải sống một đời sống không được như ý. Hai hình ảnh hoàn toàn trái ngược nhau chỉ vì thiếu một bệ đỡ vững chắc.

Cái bệ đỡ đó, nó vô hình và thiêng liêng lắm.

Tác giả Phạm Ngọc Lân có thể nói đã sống một cuộc đời viên mãn vì có cái bệ đỡ đó. Khi gấp quyển sách lại thì độc giả thấy cái bệ đỡ đó đến từ bà ngoại, từ người mẹ và từ người vợ của anh, những người đã giữ được cái “chất Việt Nam” chảy mạnh mẽ trong huyết quản của một người mang hai dòng máu đã vượt qua số phận của mình để đạt được những gì anh mong muốn ngay cả về âm nhạc mà anh từng ấp ủ từ tuổi thơ.

Nguyễn Thị Cỏ May  

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

   

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 22 Apr 2017 09:14 AM