Các bài trong đề mục

Không Quên Bạn Tù

theo thứ tự abc

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Tháng 01 năm 2011

Tháng 02 năm 2011

Tháng 03 năm 2011

Tháng 04 năm 2011

Tháng 5&6 năm 2011

Tháng 07 năm 2011

Tháng 08 năm 2011

Tháng 09 năm 2011

Tháng 10 năm 2011

Tháng 11 năm 2011

Tháng 12 năm 2011

 

Tháng 01 năm 2012

Tháng 02 năm 2012

Tháng 03 năm 2012

Tháng 04 năm 2012

Tháng 05 năm 2012

Tháng 06 năm 2012

Tháng 07 năm 2012

Tháng 08 năm 2012

Tháng 09 năm 2012

Tháng 10 năm 2012

Tháng 11 năm 2012

Tháng 12 năm 2012

 

Tháng 01 năm 2013

Tháng 02 năm 2013

Tháng 03 năm 2013

Tháng 4&5 năm 2013

Tháng 06 năm 2013

Tháng 07 năm 2013

Tháng 08 năm 2013

Tháng 09 năm 2013

Tháng 10 năm 2013

Tháng 11 năm 2013

Tháng 12 năm 2013 

 

Tháng 01 năm 2014  

Tháng 02 năm 2014 

Tháng 03 năm 2014 

Tháng 04 năm 2014

Tháng 05 năm 2014

Tháng 06 năm 2014

Tháng 07 năm 2014

Tháng 08 năm 2014

Tháng 09 năm 2014

Tháng 10 năm 2014

Tháng 11 năm 2014

Tháng 12 năm 2014

 

Con Trâu Xã Nghĩa

LÊ ĐỨC LUẬN

Câu chuyện tôi sắp kể xảy ra ở miền trung du Việt Bắc, cách nay hơn bốn mươi năm. Vào thời điểm đó, chỉ là những chuyện xảy ra thường ngày - chẳng có gì đáng nói - nó không làm cho người trong cuộc lúc bấy gìờ động lòng trắc ẩn. Nhưng bây giờ nhắc lại khiến nhiều người rơi nước mắt…

Tôi nhớ lại, ngày xa xưa ấy, một anh thanh niên người gốc người miền Tây, cùng chung đội trồng sắn với tôi. Anh ta quen với cảnh sông nước mênh mông, ruộng đồng bát ngát, anh hiền và thật thà như đất…cho nên khi đi vào nơi núi rừng trùng điệp, anh thấy cái gì cũng lạ lẫm, cũng bí hiểm. Anh luôn hỏi tôi về những hiện tượng khác thường của núi rừng Việt Bắc – Con suối ngàn năm chưa có dấu chân người, đám tù lội qua một lần, lông chân rụng ráo trọi; nếu tắm gội nhiều lần lông mi, lông mày không còn, trông như mắt lợn luộc.

Bây giờ, trong buổi họp mặt các ‘cựu tù cải tạo’ K4, Trại Tân Lập – Vĩnh Phú, ngày 27-8-2019 ở Nam Cali, anh ngồi cạnh tôi, mặc áo tràng màu lam, đầu trọc, trông như vị sư già. Anh lắng nghe mọi người kể lại những kỷ niệm buồn vui trong những ngày cơ cực, nét mặt anh vẫn bình thản…Tôi có cảm tưởng như anh đã quên hết ‘sự đời’.

Khi ở chung trại tù, tôi lớn tuổi hơn anh khá nhiều, nên thường xưng “mày - tao” theo kiểu người miền Tây cho thân mật. Hiện tại, anh thay đổi nhiều, làm tôi hơi ngần ngại trong cách xưng hô, nhưng cũng bắt đầu gợi chuyện, tôi hỏi:

-Anh đi tu bao lâu rồi? Trông anh như ‘nhà sư thứ thiệt’, tôi là phật tử nên bao giờ cũng tôn kính các bậc chân tu – không biết bây giờ, gọi anh sao cho phải phép?

Anh ta cười hiền hòa, đáp lời:

-Anh mới nói: trông tôi như ‘nhà sư thứ thiệt’, không biết mặt mũi ‘nhà sư thứ giả’ ra sao? Ngày nay nhiều người ‘giả tu’, có người ‘tu giả’, cho nên anh nói thế cũng phải. Tôi thì ‘tu thiệt’- tu cho mình chứ không tu cho đời. Các tước hiệu này nọ là do con người đặt để, chứ chúng sanh con nhà Phật đều bình đẳng -  thì gọi sao chẳng được.

  Nãy giờ nghe anh em nói nhiểu về những kỷ niệm đau thương.  Sự đời bao giờ cũng thế: điều gì mà người khác làm cho ta đau khổ thì đem lòng thù hận, còn chính ta gây nên sự đau khổ cho tha nhân sẽ để lại trong ta niềm ân hận. Thù hận và ân hận sẽ giày xéo tâm tư con người.

  Lòng vị tha giúp ta bớt thù hận, sám hối làm vơi ân hận. Vị tha và sám hối sẽ giải tỏa phần nào sự giày xéo trong tâm hồn, để cho ‘thân tâm an lạc’.

Nhờ hấp thụ nền giáo dục nhân bản của Miền Nam và sự mặc khải của niềm tin tôn giáo đã giúp tôi giác ngộ, tìm được con đường giải thoát. Ra tù vài năm, tôi xuất gia tu Phật.”

-Như vậy, anh đã trải qua một thời gian bị ‘giày xéo’?, tôi hỏi.

-  Đúng vậy! Trong thời gian ở K4, trai Tân Lập, tôi đã chứng kiến những cảnh tội ác xảy ra thường ngày, trong đó có lần tôi tiếp tay gây nên đau khổ cho một con trâu. Những tội ác đó đã ám ảnh tôi một thời gian khá lâu, dù đã bao lần sám hối, nhưng khó xóa mờ trong ký ức. 

Anh ta bắt đầu câu chuyện: Thân phận con trâu dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa - tôi gọi ngắn gọn là: Con Trâu Xã Nghĩa. Anh kể:

- Như anh đã biết, ở trong trại tập trung của cộng sản mà được vào đội nhà bếp, vào đội chăn nuôi, hay đi chăn trâu được coi như tốt số - ở đội nhà bếp được no bụng nhờ vét chảo cơm cháy, đội chăn nuôi xén bớt phần cám heo, chăn trâu thì được cải thiện linh tinh. Tôi được chỉ định đi chăn trâu.

  Không biết tên quản giáo coi tướng tá của tôi thế nào mà buổi sáng hôm đó đang tập hợp sắp hàng đi lao động, hắn kêu tôi ra khỏi hàng. Chờ tù nhân xuất trại xong xuôi, hắn đến dẫn tôi ra chuồng trâu. Tôi nghĩ bụng: ‘chắc nó bắt mình dọn chuồng’ - thế thì cực hơn đi cuốc cỏ sắn. Nhưng không, hắn chỉ hai mẹ con con trâu đang nằm trong chuồng, nói: ‘Từ nay anh chận ( chăn) hai con trâu này, nhiệm vụ của anh: mỗi buổi sáng ra đây mắc con trâu mẹ vào cái cộ ( trong Nam gọi chiếc xe bò), đi qua K5 lãnh lương thực về cho trại – anh cột con nghé vào phía sau xe, dẫn nó đi theo. Xong việc đem lương thực về nhà bếp, anh dắt hai mẹ con nó lên đồi gặm cỏ, năm giờ dẫn nó về chuồng.

  Nghe qua, tôi thấy lùng bùng, vì hồi nào đến giờ chưa biết đánh xe trâu ra làm sao…nhưng đâu dám nói gì – đang ở tù mà – nó nói sao nghe vậy. Hắn hỏi tôi: ‘ Anh có chận (chăn) trâu bao giờ chưa?’- ‘ Không có chăn trâu, nhưng hồi nhỏ, sau khi đi học về, tôi thường ra đồng chơi với mấy đứa chăn trâu cho nhà tôi và chúng nó chỉ những con trâu hiền lành cho tôi leo lên cỡi, thích lắm’. Hắn cười, rồi nói: ‘Vậy là con nhà địa chủ rồi’. Tôi lại lùng bùng nghĩ ngợi lung tung: nó ghép mình vào thành phần con nhà địa chủ thì bỏ mẹ cuộc đời, tôi vớt vát: ‘ Địa chủ gì, tôi con út, nên được cha mẹ cưng, không cho chăn trâu để tôi đi  học’.

  Hắn không nói gì thêm, mắt đượm vẻ buồn, nhìn xa xăm về phía chân đồi. Im lặng một lúc, hắn lên tiếng buồn buồn, hỏi tôi: ‘ Anh quê ở đâu?’- ‘Ở Long An’ – ‘ Vậy hả, tui cũng ở Long An, trông anh tôi biết là gốc ruộng mà’.

  Hình như lúc ấy hắn quên nhiệm vụ ra đây để giao cho tôi công việc đánh xe trâu và cũng quên cương vị của một tên cai tù, hắn nói với tôi  như thân phận của một kẻ hèn mọn: ‘Tuổi thơ của tui không được may mắn như anh, tui mồ côi cha lúc bảy tuổi; mẹ tui nghèo, cho tui đi ở đợ, chăn trâu, chẳng được học hành gì; năm mười lăm tuổi, tui vào bưng theo cách mạng; năm 1954, tui được tập kết ra Bắc. Ra ngoài này vài năm, tui được chuyển vào ngành công an coi tù. Từ đó đến nay tui gắn bó với núi rừng, nơi thâm sơn cùng cốc – sơn lam chướng khí. Công việc coi tù chẳng thích thú gì, chỉ làm những điều ác đức, nhưng cách mạng đã bố trí, thì phải thi hành nhiệm vụ. Tui nhớ da diết ruộng đồng hiền hòa ở quê mình. Lẽ ra, tui được điều về miền Nam sau ngày giải phóng, nhưng các anh ra đây đông quá, cấp trên giữ tui lại. Nay thì họ chấp thuận cho tui về Nam. Cuối năm tui sẽ lên đường – Chán cái miền Bắc này lắm rồi!’.

Tôi im lặng, chờ đợi hướng dẫn công việc, không dám phụ họa lời nào, vì sợ hắn chơi trò ‘giả dạng thường dân’.

  Tôi ngồi cạnh hắn trên xe trâu, hắn bắt đầu chỉ dẫn: ‘ Có một số tiếng đặc biệt, con trâu nó hiểu để làm theo ý mình như: “họ” là bảo nó đứng lại . Qua phải thì hô: “tắc” hay “vắt” (trong Nam và một số tỉnh miền Trung gọi “thá”). Qua trái hô: “” (ở miệt miền Tây và miền Trung gọi “”, còn ở Hôi An gọi “hò rì”). Nếu nó còn đi sai, anh kéo dây xỏ mũi như điều khiển dây cương ngựa.

Hắn nói mỉa: “ Con trâu bắc kỳ, phải nói kiểu Bắc kỳ nó mới hiểu, nghĩa là nói ‘vắt’ thay vì ‘thá’, ‘rì’ thay vì ‘dí’. Con trâu già này khôn lắm, và đã quen việc, nên dễ điều khiển, nhưng đến Tết, Trại cho xẻ thịt”

Anh bạn tù (nhà sư) nhấp ngụm cà phê, rồi tiếp tục câu chuyện:

- Từ ngày con trâu mẹ hóa kiếp, con trâu nghé bắt đầu công việc kéo xe. Cứ mỗi lần đi qua đoạn đường gần ngọn đồi mà tôi thường dắt mẹ con nó ra đây gặm cỏ, con nghé tự động đứng lại, ngước nhìn lên đồi, kêu: ‘ngo…ọ…ọ - ngọ …ò’. Trước đây mỗi khi lạc mẹ, nó kêu lên như thế; ở đâu đó con trâu mẹ cất tiếng: ‘nghé …ọ…ọ, nghé…ọ…ò…’ con trâu con chạy về bên mẹ. Bây giờ, tiếng kêu của nó ngân dài, tan loãng trong tiếng gió ngàn…không lời đáp lại - mường tượng như tiếng gọi: Mẹ ơi! của đứa trẻ thơ mất mẹ. Tôi rưng rưng xúc động…

Từ đó tôi coi nó như đứa con thân yêu, tôi đặt tên cho nó là ‘con Cộ’. Nó hiểu. Mỗi lần gọi tên, nó ngước lên nhìn tôi, chờ đợi. Hình như nó cũng cảm nhận được những lời tâm sự, vỗ về, an ủi của tôi.

Ngày tháng trôi qua, nắng sớm mưa chiều, tôi và nó gắn bó bên nhau, đồng lao cộng khổ, nhưng cũng có những lúc thảnh thơi. Những buổi chiều, sau khi đem thực phẩm về giao cho nhà bếp, hay đi kéo khúc gỗ lớn về trại cưa, tôi dẫn nó ra cái hồ gần trại cho nó ‘ngoi bùn’ một lúc, rồi dẫn ra chỗ nước sâu, tắm cho nó, sau đó nó lên đồi gặm cỏ, còn tôi đi ‘cải thiện’ linh tinh. Năm giờ chiều, nghe tiếng kẻng báo hết giờ lao động, nó tự động xuống đồi, đi về chuồng.

  Nó vào chuồng, tôi vào trại - chấm dứt một ngày lao động. Phần nó được nắm rơm khô, hôm nào gặp đám cỏ tốt, tôi cắt cho nó một bó, bỏ vào máng, coi như hôm đó nó được bồi dưỡng; phần tôi lận lưng được nắm rau, củ khoai hay con nhái ‘nướng trui’. Thế là bữa chiều coi như ‘thịnh soạn’!.

  Ngày qua ngày … cặp sừng nó dài thêm, đen mướt, cong vút, trông nó ‘oai vệ’. Bấy giờ, nó là con trâu mập và mạnh nhất Trại. Những cây gỗ to không con trâu nào kéo nổi thì kêu con Cộ.

  Tôi hãnh diện về nó. Tôi hình dung nó như đứa con trai ở tuổi đôi mươi: có lúc nó ngẩn ngơ, có khi hung hăng, thích đi tìm đàn trâu lạ để chọi lộn. Một hôm, tôi dẫn nó lên đồi gặm cỏ, nó không gặm cỏ mà cứ nghinh mõm lên trời, cánh mũi phập phồng và đôi mắt mơ màng hướng về con dốc Lệ Tuôn. Bỗng nó vùng chạy, tôi đuổi theo, gọi …Nhưng nó            không đứng lại - một thoáng đã qua bên kia đồi. Tôi không thể đuổi theo nó qua bên kia dốc Lệ Tuôn, vì có lịnh cấm tù nhân không được vượt qua con dốc này, nếu không có vệ binh dẫn đi, nên tôi phải quay về báo cáo với quản giáo.

Tên quản giáo bây giờ là người Bắc, thay cho tên quản giáo hướng dẫn tôi đánh xe trâu lúc trước. Nghe tôi báo cáo, hắn bảo: “ Nó đi ‘chim gái’ đấy – Yên chí, nó qua với đàn trâu bên trại ‘Thiếu Nhi Phạm Pháp’. Bên ấy nhiều trâu cái. Anh đi theo tôi, qua dắt nó về”.

Trước khi đi, hắn bảo tôi đem theo đoạn dây thừng. Trên đường, hắn cho tôi biết những thói quen của bầy trâu và cách dẫn dụ những con trâu ‘lung’ ( là con trâu dữ, hay tìm cách sổng chuồng đi quậy phá). Hắn giải thích: “ Phần nhiều trâu cái động dục ( nông dân gọi là động đực) vào mùa Thu – Đông: từ tháng Tám đến tháng Hai. Thời gian động dục kéo dài từ 15 đến 35 ngày, con trâu cái tiết ra một mùi đặc biệt, đôi khi rống lên…đó là tín hiệu báo cho những con trâu đực tìm đến ‘gây giống’… Trong khoảng thời gian này, bầy trâu vô cùng hung hăng, lộn xộn. Những con trâu đực, rượt đuổi, đánh nhau tơi bời để được đến với con  cái. Con nào chiến thắng sẽ được ‘độc quyền thỏa mãn’ cùng nàng trâu cái đang đứng đợi chờ…”

Hắn bảo tôi: “ Trong lúc các con trâu đực ‘theo cái’, mình phải tránh xa và không nên can thiệp vào lúc này. Rất nguy hiểm!’ - Khi qua bên đó mà bầy trâu còn rượt đuổi nhau, thì chúng ta phải chờ cho bầy trâu của họ vào chuồng, con Cộ sẽ lóng ngóng bên ngoài, anh đến cột dây thừng vào khoen xỏ mũi lôi nó về”.

Quả đúng như tên quản giáo đã nói: con Cộ đứng lóng ngóng ngoài chuồng, trông thấy tôi, nó mừng ra mặt, để tôi buộc dây thừng vào khoen xỏ mũi và ngoan ngoãn theo tôi về trại.

Qua khỏi dốc Lệ Tuôn, tên quản giáo bảo tôi cột con Cộ vào gốc cây bên đường, hắn nói: - “ Trong trại có ba con cái, nó đã đánh thắng hết các con đực để độc quyền ‘làm chủ’ hết ba nàng. Bây giờ còn đi tìm ‘ của lạ’, phải trừng trị nó một trận nên thân”.

Thế là, hắn lấy một cây gậy nứa to bằng cườm tay, dài hơn hai thước, đánh con Cộ tơi bời, bất kể nơi đâu. Hắn vừa đánh vừa la: “Cái tội đi tìm của lạ này… cái tội này…”. Hắn đánh tới tấp, đánh liên tiếp… con Cộ gục đầu cam chịu. Thấy tội quá, tôi đến nói: “ Xin cán bộ tha cho nó, cán bộ đánh thế nó chết mất” “ Không tha gì cả, đánh cho nó chừa, có chết đem đi thịt”. Nghỉ mệt vài phút, hắn đánh tiếp, hắn như say máu…Lúc này, mắt con Cộ  đỏ ngầu, nó vung đầu một cái, nghe bục một tiếng, sợi dây thừng đứt, con Cộ húc vào gốc cây, lại một tiếng rắc, cây ngã bật gốc. Bấy giờ con Cộ lừ lừ quay đầu về phía tên quản giáo, tên quản giáo hoảng hồn bỏ chạy, con Cộ đuổi theo. Tôi thất kinh và như một phản xạ tự nhiên tôi hét lớn: “Cộ! Đứng lại!”. Tôi ngạc nhiên thấy nó đứng lại quay đầu về hướng tôi, nước mắt chảy dài xuống mũi. Lúc ấy, tôi bấn loạn, không dám đến gần nó. Vài phút trôi qua, tôi lấy lại bình tỉnh, lên tiếng: “Cộ à! Đi về!”. Kỳ diệu thay, nó quay lại, đi theo con đường về trại. Tôi theo sau nó. Tên quản giáo đi sau tôi một khoảng cách khá xa.

  Con đường mòn trên dốc Lệ Tuôn mờ nhạt dần sau màn sương tỏa.  Vạt nắng chiều thu còn sót lại trên sườn đồi phía trước gom lại, nhỏ dần. Hoàng hôn từ từ buông xuống – u ám, thê lương! Tôi nhớ đến giai thoại về con dốc Lệ Tuôn do một người tù hình sự kể lại: Thời Pháp thuộc, thung lũng này là một làng của người cùi. Không biết được lập nên từ hồi nào, nhưng sau Cách mạng tháng Tám vài năm, làng cùi chẳng còn ai, có lẽ họ già, chết hết rồi. Thung lũng trở nên hoang phế. Sau năm 1954, tại đây, nhà nước lập trại giam tù hình sự. Hồi đó, thân nhân thăm nuôi tù, phải leo qua ngọn đồi này và theo con đường mòn duy nhất để đi vào Trại. Khi về, lên tới đỉnh dốc, ngồi nghỉ mệt, người thăm nuôi nhìn xuống thung lũng, thấy những bộ xương bọc da, vật vờ như những bóng ma di động trong những đám ruộng sình lầy, hay trên nương rẫy dù đang mưa dầm hay nắng gắt… Đó là những người thân thương của họ…Bỗng dưng nước mắt họ tuôn trào! Từ đó, nơi đây mang tên: Con dốc Lệ tuôn.

Chiều nay, tôi và con Cộ cũng đã rơi nước mắt nơi đây. Địa danh này chỉ có sự uất hận và ngậm ngùi.

Sau mùa động dục, bầy trâu trở lại sinh hoạt bình thường: hiền lành và cần mẫn. Chỉ riêng con Cộ trở nên hung dữ, thường tấn công (húc) đám công an áo vàng; nhưng riêng tôi, nó vẫn ngoan ngoãn, hiền lành và biểu lộ sự khôn ngoan lạ lùng. Khi Trại cho phép thân nhân tù cải tạo ra thăm nuôi. Một tuần vài lần, tên cán bộ trực trại cho xe trâu ra Bến Ngọc đón các bà. Từ đó, mỗi lần trên đường qua K5 lãnh thực phẩm mà thấy các bà ‘tay xách, nách mang’, con Cộ tự động đứng lại. Tôi hiểu ý nó, xin phép tên vệ binh chở giúp quà cáp cho các bà đỡ vất vả một đoạn đường.

Tôi và con Cộ thân thiết, gắn bó với nhau mấy năm trời. Một buổi chiều cuối năm, năm 1980, tên quản giáo nói với tôi: “ Ngày 30 tháng Chạp  này, Trại ta sẽ thịt một con trâu ăn Tết. Tôi đề nghị thịt con Cộ, nhưng Ban lãnh đạo chưa chịu, bảo lựa con nào già yếu hay bất khiển dụng. Vậy từ ngày mai anh buộc kỹ con Cộ trong chuồng, không cho nó ăn uống gì cả, vài ngày cho nó xụi, tôi có cớ trình lên trên là nó mắc bệnh ‘lở mồm long móng’, mình sẽ thịt nó mà không bị khiển trách”.

Nghe hắn nói, tôi bần thần, bủn rủn tay chân, đầu óc bấn loạn, tôi lắp bắp: “ Xin cán bộ xét lại, nó là con trâu mập khỏe nhất trại, lại mới bốn năm tuổi” – “ Thế thịt mới ngon chớ lị” – “ Nhưng mà nó khôn lắm, cán bộ ơi!” – “ Khôn gì? Con trâu phản động” – “ Xin cán bộ xét lại, tội nghiệp nó!” – “ Tội nghiệp gì, nuôi nó để cày bừa, kéo gỗ, cộ xe mà nó hung hăng thì thịt, không thương tiếc, tội nghiệp gì cả, cứ thế thi hành. Nhớ tuyệt đối: “không cho nó uống nước và không được cho ai biết lịnh của tôi, anh nghe rõ chưa?”

Ngày hôm sau, tên quản giáo bảo tôi qua đội lâm sản dẫn con trâu già về kéo xe. Xong công việc chở thực phẩm về nhà bếp, tôi cho con trâu già lên đồi gặm cỏ. Lợi dụng lúc rảnh, tôi lén qua thăm con Cộ. Trông thấy tôi, nó ngọ nguậy cái đầu, trông mừng ra mặt, nước mắt nó trào ra, nó ngửa mõm lên, thè lưỡi liếm mũi… Biết nó khát nước, tôi lấy gô nước chế vào mõm nó. Khi ấy, có tiếng chân đi tới, tôi quay lại, thấy tên quản giáo đứng phía sau, mặt hầm hầm, hắn lên tiếng: “ Anh làm gì ở đây? Anh mới cho nó uống nước phải không?” – “ Dạ, thấy nó tội nghiệp quá”.

Hắn quát: “ Tội nghiệp cái nỗi gì! Tôi cấm anh đến đây. Anh mà còn lén cho nó ăn cỏ, uống nước, tôi sẽ cùm anh, cho vào nhà kỷ luật” – “Hiểu chưa?”

Tôi quay đi, nước mắt cứ trào ra…Đêm hôm đó, hình ảnh con Cộ cứ chập chờn trong giấc ngủ - đôi mắt ngầu đục, đầm đìa nước mắt của nó nhìn tôi như cầu cứu van xin…

Nhớ lại, một lần tôi bị tên vệ binh hăm dọa: sẽ cùm và cho vào nhà kỷ luật cũng vì cho nước. Hôm ấy, tên vệ binh coi nhà bếp sai tôi đem cơm cho một người đang bị nhốt trong nhà kỷ luật. Tôi đưa phần cơm ( thực ra là sắn) và gô nước qua khung nhỏ dưới bệ cửa, người bên trong lấy phần cơm và gô nước, liền đẩy ra cái bô tráng men (đồ đựng nước tiểu) thì thào nho nhỏ: “cho xin thêm chút nước”. Tôi lấy gô nước của tôi đổ vào cái bô men. Tên vệ binh đứng xa trông thấy, hắn quát: “ Anh kia làm gì thế, tiêu chuẩn mỗi ngày chỉ được một cóng nước thôi”. Hắn ra lịnh: “Đổ nước đi!”. Tôi ngần ngừ… Hắn quát: “Đổ ngay! Anh cố tình vi phạm nội quy hả? Anh muốn cùm, cho vào nhà kỷ luật hả?”. Cầm bô nước đổ xuống đất mà tim tôi như thắt lại. Ra khỏi khu kiên giam, trời nắng như đổ lửa, lòng tôi ngậm ngùi nghĩ đến thân phận người tù và phân vân tự hỏi: Tại sao trên đời này có những con người nhẫn tâm như thế?.

Buổi chiều, trước ngày 30 tháng Chạp năm ấy, đang ngồi ăn cơm, anh Trưởng Ban thi đua vào gọi tôi ra gặp tên cán bộ quản giáo gấp. Trong lòng nửa mừng, nửa lo: mừng vì nghĩ nhân dịp lễ, biết đâu được thả; còn lo là vì chưa biết chuyện gì xảy ra. Ở tù cộng sản mà bị gọi bất thần thì sợ lắm. Tôi theo anh Trưởng Ban thi đua đến gặp hắn. Vừa thấy mặt, hắn ra lịnh: “Anh đi kiếm con Cộ về cho tôi, nó sổng chuồng biến mất từ trưa đến giờ”. Tôi trả lời: “ Biết nó đi đâu mà tìm cán bộ?”. Hắn bảo: “ Cả buổi chiều, anh em vệ binh đổ ra đi tìm, nhưng chịu, không tìm thấy. Bây giờ anh đi với chúng tôi”.

Bọn chúng bốn thằng, cải trang thường phục, đi sau tôi. Tên quản giáo bảo: “ Đến mỗi ven rừng, chúng tôi núp xa xa, còn anh vào đó kêu to tên nó, nghe tiếng anh nó sẽ ra…”.

Lúc ấy, lòng tôi bâng khuâng lo nghĩ: kêu con Cộ về, nó sẽ chết,  mà không lên tiếng làm sao yên được với thằng quản giáo. Tôi nghĩ vẩn vơ: phải chi mình có phép lạ, phát ra một thứ tiếng đặc biệt cho con Cộ hiểu để trốn luôn.

Đến chân đồi, tên quản giáo nhắc tôi: “ Kêu lên đi!”. Tôi miễn cưỡng… Hắn lại dục. Tôi gọi mấy lần, chỉ nghe tiếng vọng lại từ vách núi. Nắng chiều đã tắt, núi rừng nhuộm màu xanh thẳm, mưa rả rích - một cảnh thê lương đến não lòng … Tên quản giáo khoát tay ra hiệu cho tôi đi tiếp. Chốc chốc hắn lại dục: “Gọi lên đi!”. Nhưng hoàn toàn vô vọng.

Đi một lúc, không có kết quả, cả bọn quay về. Đến chân đồi nơi xuất phát, tên quản giáo bỗng nói: “ kêu nó ra bây giờ, ngày mai sẽ không bị mổ. Anh gọi lại, xem sao!”. Lạ lùng thay, con Cộ lững thững từ bìa rừng, đi ra.

Tên vệ binh đưa cho tôi đoạn dây thừng, nói nhỏ: “ Anh đến buộc dây, dắt nó về chuồng, chúng tôi đi sau xa xa cho nó khỏi sợ”.

Con Cộ vào chuồng, ngước đầu lên, như muốn nói điều gì, tôi thấy cái mũi nó toét ra không còn cái khoen xỏ mũi. Có lẽ linh tính báo cho nó biết sẽ bị xẻ thịt, nên giựt đứt dây xỏ mũi để trốn. Tôi vỗ nhẹ trán nó, vuốt ve… Khi ấy, bốn tên công an cũng vừa đến. Một tên vác theo hai miếng gỗ vuông  giống như cái gông cổ tù nhân thời Pháp thuộc; chúng nó xúm nhau đưa chân con Cộ vào cái lỗ tròn trên miếng gỗ, con Cộ hết đường nhúc nhích. Lần đầu tiên tôi thấy cảnh tượng con trâu bị cùm. Sau đó, bốn thằng thay nhau lấy một cây gậy dài đánh vào đầu con Cộ. Thấy thế, tôi hét lên: “ Nó đã quay về, tại sao các ông còn đánh nó, các ông ác quá!”. Tôi đã quên thân phận một người tù.

Cảnh tượng đó làm tôi nhớ lại lần đầu tiên chứng kiến bốn tên công an đánh một người tù hình sự - chúng nó gọi là ‘đánh tứ trụ’. Buổi sáng hôm ấy, đội chúng tôi được phân công đi nhổ mạ gần với đội tù hình sự đang cuốc lật đất mấy đám ruộng kế bên, bỗng nghe tiếng gọi: ‘anh kia, lại đây!’. Chúng tôi ngưng tay nhổ mạ, nhìn lên thấy bốn tên công an đứng bốn góc thành hình vuông, trên khoảnh đất cao. Một người tù hình sự run rẩy, lập cập từng bước đến chỗ bốn tên công an đang đứng. Trông cái đầu người tù trọc lóc, to quá khổ, đôi mắt sâu hoắm trông như chiếc đầu lâu gắn trên thân thể da bọc xương –  hình ảnh chập chờn như một bóng ma...

Tiếng quát vang lên: “Vào!”. Một giọng run run: “Cháu lạy các ông! Xin các ông tha cho cháu! Cháu không dám tái phạm”.

Lại một tiếng hét sắc như dao: “Vào!

Hình như đã quen với cảnh này, người tù hình sự run rẩy, ngoan ngoãn bước vào giữa bốn tên công an. Thời gian như ngừng lại, không gian như lắng đọng để chứng kiến một cảnh hãi hùng: Một cú đá tung ra, người tù văng sang tên công an đối diện. Tiếng ‘hự’ vang lên, người tù bị cú đấm, ngã sang phía tên khác, lại một tiếng ‘hự’ vang lên. Cứ thế, tiếng ‘hự’ càng nhặt, tiếng kêu ‘xin tha’ càng thưa. Cho đến lúc tiếng kêu: ‘Con chết mất - Mẹ ơi!’. Người tù gục xuống, máu họng trào ra… Bốn tên công an bỏ đi.

Chúng tôi cúi mặt, nước mắt ứa ra, không ai nói được nên lời. Giờ nghỉ giải lao, chúng tôi hỏi ra mới biết anh này bị đánh, chỉ vì ngưng tay cuốc, đuổi bắt một con nhái. Không một lời bình luận, chỉ nghe tiếng thở dài sau lời than thở: Ác đến thế là cùng!

Sống trong môi trường sự tàn ác xảy ra thường xuyên, cái ác sau tàn bạo hơn cái ác trước - chất chồng… làm cho nước mắt con người cạn dần, con tim không còn xao xuyến… Đến một lúc trở nên vô cảm trước mọi khổ đau. Hiện nay, người ta nói nhiều về hiện tượng vô cảm ở Việt Nam và Trung cộng. Đó là biểu hiện sự tha hóa trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Mặc dù, Karl Marx có nói: ‘ Chỉ có súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của đồng loại mà chăm lo riêng cho bộ lông của mình’. Những người cộng sản Việt Nam chưa thức tỉnh về lời nói của ông tổ của họ, vẫn khư khư ‘ chăm lo riêng cho bộ lông của mình’.

Trở lại chuyện con trâu: Sáng ngày 30 tháng Chạp, cả trại được nghỉ lao động. Anh Trưởng ban thi đua kêu tôi và một người nữa đi mổ trâu. Vì không muốn chứng kiến cảnh con Cộ bị phân thây xẻ thịt, tôi cáo bệnh, từ chối. Nhưng rồi cũng không tránh khỏi cảnh đau lòng. Tên quản giáo bắt buộc tôi ra dắt con Cộ đến nơi xẻ thịt vì bọn chúng sợ nó nổi điên húc càn.

Không thể từ chối, tôi phải ra đi nhưng trong lòng nặng trĩu ưu tư: đằng nào rồi con Cộ cũng bị giết, vậy thì nên đến với nó lần cuối cùng. Lúc ấy, tôi mang tâm trạng của một người đến đưa một linh hồn ra pháp trường…

Không biết các vị linh mục, hay nhà sư nói lời gì với tử tội trước giờ hành quyết. Riêng tôi, đến vuốt đầu con Cộ và chỉ nói được một câu: “Cộ à, hôm nay con được hóa kiếp…”; rồi tôi ghẹn lời, nước mắt cứ trào ra… Đôi mắt ngầu đục của con Cộ nhìn tôi, thật buồn!.

Hai anh bạn tù dắt con Cộ ra khỏi chuồng đi về hướng nhà bếp của cán bộ. Tôi theo sau một quãng đường, đến ngã rẽ, tôi xin phép vảo trại, lòng cứ ngẩn ngơ…

Chiều hôm đó, mỗi người tù được lưng chén súp với vài miếng thịt trâu lớn hơn hai ngón tay.

LÊ ĐỨC LUẬN

( Tháng 11- 2019)

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

   

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 16 Dec 2019 02:46 PM