Các bài trong đề mục

Tài Liệu

theo thứ tự abc

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Trong năm 2011

Trong năm 2012

Trong năm 2013

Trong năm 2014

Trong năm 2015

 

Tháng 01 năm 2016

Tháng 02 năm 2016

Tháng 03 năm 2016

Tháng 04 năm 2016

Tháng 05 năm 2016

Tháng 06 năm 2016

Tháng 07 năm 2016

Tháng 08 năm 2016

Tháng 09 năm 2016

Tháng 10 năm 2016

Tháng 11 năm 2016

Tháng 12 năm 2016

 

    Asymmetric Warfare and The Third Offset

Tác Chiến Bất Đối Xứng và Chiến Lược Bù Đắp Lần Thứ Ba

By Benjamin Locks

Nguyễn Thế Phương dịch và hiệu đính

 

War on The Rocks - June 23-2015

 

“Chỉ có hai cách để chống lại quân đội Mỹ: thực sự ngu ngốc (trong tác chiến quy ước) hay áp dụng tác chiến bất đối xứng” (There are only two ways to fight the US: stupidly [conventionally] or asymmetrically), Trung Tướng (Lieutenant General) Herbert Raymond McMaster.

.

 

Photo credit: Spc. Eric James Estrada, U.S. Army

Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đang chuẩn bị những nền tảng quan trọng nhằm thiết kế chiến lược bù đắp lần thứ ba (third offset strategy) tập trung chủ yếu vào yếu tố công nghệ. Đồng thời, họ cũng đang nỗ lực lật sang một chương mới các cuộc phiêu lưu quân sự kéo dài 12 năm ở Iraq và Afghanistan. Trong giai đoạn dịch chuyển từ chiến tranh quy mô nhỏ sang những cuộc chiến tranh quy mô lớn hơn, Bộ Quốc phòng và toàn bộ ngành công nghiệp quốc phòng đối mặt với rủi ro lớn khi tập trung quá nhiều thời gian và tiền bạc vào mối đe doạ chống xâm nhập, chống tiếp cận (A2/AD) gây ra bởi Trung cộng tại khu vực Tây Thái Bình Dương mà quên đi sự chuẩn bị cho tác chiến bất đối xứng – đặc biệt chống lại các nhóm chủ thể phi nhà nước phức tạp hay các cường quốc sử dụng những chiến thuật tương tự.

Những chủ thể nguy hiểm kể trên đang ngày càng cố gắng sử dụng những công nghệ kết hợp giữa quốc phòng và khu vực thương mại. Điều này thúc đẩy Bộ Quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng phải bắt đầu tập suy nghĩ giống như đối thủ, phải biết cách chống lại và đồng thời tạo ra được những công nghệ và chương trình quốc phòng mang tính kết hợp thông qua chiến lược bù đắp lần thứ ba. Lịch sử hậu Thế chiến thứ hai của nước Mỹ cho thấy các xung đột cường độ thấp chống lại quân nổi dậy hay các nước nhỏ thường xuyên xảy ra. Chúng tác động tiêu cực tới lợi ích của Hoa Kỳ, tạo ra nhiều gánh nặng và giúp các kẻ thù trong tương lai có nhiều kinh nghiệm trong việc đối phó với quân đội Hoa Kỳ.

Chúng ta đã thấy nước Mỹ khổ sở như thế nào tại Iraq và Afghanistan, điều khiến cho Washington lưỡng lự trong việc sử dụng bộ binh trong cuộc chiến chống lại Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và Levant (ISIL), và làm thế nào mà các chiến thuật nổi dậy ở Iraq đã được truyền tới Afghanistan và các chiến trường khác. Nếu như Hoa Kỳ muốn biến các cuộc chiến chống nổi dậy và chiến tranh hỗn hợp (hybrid warfare) trở thành các mối đe doạ ít nghiêm trọng hơn trong tương lai, chúng ta cần phải chi nhiều tiền hơn cũng như phải học hỏi lại cách thức bảo vệ quyền lợi của mình ở nước ngoài trước các địch thủ tương lai.

Chân dung Thiếu Tướng Herbert Raymond McMaster

Các chiến lược và chiến thuật của Nga hay Trung cộng, chưa kể tới Iran hay ISIL, có nhiều điểm chung với các lực lượng nổi dậy hơn là kiểu chiến tranh tổng lực quy ước với sự tham gia của không quân và hải quân mà quân đội Hoa Kỳ mong đợi. Sự bùng nổ của công nghệ thương mại, được tái điều chỉnh cho phù hợp với các khả năng quốc phòng và được hỗ trợ bởi các hệ thống và chương trình huấn luyện mang tính nhà nước, nhấn mạnh thêm cho xu hướng này. Các hiểu biết đặc trưng liên quan tới năng lực và yêu cầu trang thiết bị quốc phòng của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh cho thấy nền công nghiệp quốc phòng có thể đóng vai trò quan trọng giúp nhận diện và áp dụng các công nghệ mang tính thương mại phục vụ lợi ích quốc gia – cũng như đối phó với những đối thủ vốn có thể sử dụng các công nghệ hỗn hợp tương tự để chống lại Hoa Kỳ.

Cho dù quân đội Hoa Kỳ sở hữu nhiều lợi thế về mặt công nghệ, các nhóm nổi dậy tại Iraq và Afghanistan đã chứng minh sự dẻo dai của mình khi đối mặt với những chiến dịch quân sự quy mô lớn. Những nhóm như vậy liên tục đổi mới về mặt chiến thuật và chiến lược bởi vì chúng được nuôi dưỡng trong môi trường chiến trận, và chiến bại, đối với bản thân chúng, mang lại những hệ quả mang tính sống còn. Những đổi mới về mặt quân sự của các nhóm này phát triển nhanh bất cứ khi nào đối mặt với khó khăn. Các nhóm nổi dậy sử dụng các công nghệ mang tính thương mại kết hợp với mục đích quân sự, đem lại hiệu quả đáng kinh ngạc.

Tại Iraq, các nhóm này sử dụng các thiết bị và dịch vụ di động rẻ và mang tính thương mại hoá cao cùng với các loại chất nổ đơn giản để tạo ra các loại thiết bị nổ tự tạo. Với các thiết kế đến từ Iran, quân nổi dậy tạo ra các loại thiết bị xâm nhập có sức công phá cao, gây thiệt hại lớn cho quân đội Hoa Kỳ. Trong tương lai, các nhóm nổi dậy có khả năng đưa vào trang bị các loại thiết bị bay không người lái mang tính thương mại hoặc các công nghệ mang yếu tố nhà nước. Điều này có thể ngăn chặn ưu thế của Hoa Kỳ trong chiến tranh cường độ thấp như việc sử dụng các loại máy bay không người lái như MQ-9 Reapers hay Blackhawks ở tầm chiến lược. Hezbollah hiện tại đã có khả năng sử dụng các loại tên lửa đối hạm để chống lại Israel, và Hamas đang cố gắng phát triển các thiết bị bay không người lái “cảm tử”.

Và không chỉ có những chủ thể phi quốc gia mới sử dụng các loại công nghệ thương mại hay các chiến lược phi đối xứng để đạt được mục tiêu quân sự. Trung cộng cũng đã sử dụng các đội tàu đánh cá để trợ giúp cho các tuyên bố chủ quyền của mình tại khu vực Biển Đông và biển Hoa Đông, và có thể sử dụng công cụ đó để thu thập tin tức tình báo, trinh sát, giám sát cũng như các hoạt động mang tính tấn công trong thời chiến. Nga cho thấy nước này sẵn sàng sử dụng các chiến thuật phi truyền thống để chiếm đóng Crimea và miền đông Ukraine.

Với các công nghệ mới đến từ cả khu vực thương mại lẫn quân sự như công nghệ không người lái, công nghệ thông tin hay công nghệ nhận dạng, tác chiến phi đối xứng sẽ vươn tầm tác động tới tất cả các loại chiến trường bởi các chủ thể cả lớn và nhỏ. Nếu như chiến lược bù đắp lần thứ ba sắp tới đây không thể nhấn mạnh được tính đa dạng, các chiến thuật và chiến lược bất đối xứng cũng như tiềm năng đổi mới công nghệ của đối thủ, quân đội Hoa Kỳ sẽ gặp phải vô số rủi ro không cần thiết khi can dự vào các dạng xung đột phổ biến nhất trong tương lai.

Lý do tại sao lợi thế công nghệ của chúng ta ở Iraq và Afghanistan đã không biến thành các lợi thế về mặt chiến lược là bởi vì các công nghệ mà chúng ta đã sử dụng không được thiết kế để áp dụng cho loại hình chiến tranh đó. Ví dụ, các loại đạn dẫn dường có độ chính xác cao, một trong những át chủ bài trong các chiến dịch chống nổi dậy/khủng bố, đầu tiên được thiết kế sử dụng trong chiến lược bù đắp lần thứ hai để tiêu diệt lực lượng thiết giáp hùng hậu của Liên Xô trong một cuộc chiến tranh trên đồng bằng Trung Âu. Các loại đạn chính xác cao này đã chứng minh tính hiệu quả bằng việc tiêu diệt hoàn toàn quân đội Iraq theo mô hình Xô Viết trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất.

Tuy nhiên, thứ vũ khí này lại không mang lại bất cứ lợi thế chiến lược nào ở Iraq và Afghanistan bởi vì kẻ thù không sử dụng thiết giáp. Chiến lược của quân nổi dậy là tiến hành các đợt tấn công quy mô nhỏ, với các thiết bị nổ tự tạo và những kẻ đánh bom tự sát chống lại liên quân, khiến chúng ta từ từ cạn lực và phải rút lui. Khi các công nghệ thương mại và quân sự phát triển và trở nên phổ biến, các nhóm nổi dậy và các lực lượng quân đội hỗn hợp sẽ có nhiều nguồn lực để tiến hành một chiến lược bất đối xứng, trừ khi chúng ta phát triển các biện pháp phản công.

Những người ủng hộ chiến lược bù đắp lần thứ ba dựa trên nền tảng về một cuộc chiến tranh quy ước giữa các quốc gia với nhau mong muốn phát triển công nghệ nhằm chống lại chiến lược A2/AD. Theo Trung tâm Phân tích Chiến lược và Ngân sách, các thành tố chính của một chiến lược bù đắp mới cần phải bao hàm cả các công nghệ cho phép quân đội Hoa Kỳ hiện diện một cách lâu dài, đảm bảo giữ vững đối trọng với các đối thủ sỡ hữu mạng lưới A2/AD mạnh mẽ, đồng thời dựa nhiều hơn vào chính sách răn đe (deterrence) thông qua ngăn chặn (denial) và trừng phạt (punishment). Chiến lược này rõ ràng nhắm vào Trung cộng, Nga hay thậm chí là Iran, những quốc gia sở hữu tiềm năng phát triển mạng lưới A2/AD ở quy mô lớn và trở thành một tiêu trừng phạt khả dĩ.

Bộ Quốc phòng mong mỏi đầu tư vào những công nghệ tối tân, cùng những khái niệm tác chiến dành cho chiến tranh tổng lực theo sau “Khái niệm chung về Tiếp cận và Kiểm soát trong môi trường toàn cầu” (Joint Concept for Access and Maneuver in the Global Commons), ví dụ như các thiết bị không người lái dưới mặt biển cũng như các loại đạn dược dẫn đường có độ chính xác cao sở hữu tầm tác chiến xa hơn. Tuy nhiên, những nỗ lực như vậy có nguy cơ cản trở quá trình phát triển các loại vũ khí và chiến lược thích hợp hơn giúp đối phó với các địch thủ sử dụng chiến thuật tác chiến hỗn hợp. Các lực lượng nổi dậy hay quân đội hỗn hợp trong tương lai sẽ không sở hữu các khả năng A2/AD nhằm ngăn chặn các máy bay F-35 hay Hạm đội 7. Sẽ là một sai lầm lớn nếu chúng ta đánh giá thấp các địch thủ bất đối xứng. Họ không chi quá nhiều tiền vào các loại vũ khí xa xỉ như Hoa Kỳ.

Một số khoản đầu tư về công nghệ có thể được nêu lên trong chiến lược bù đắp lần thứ ba giúp chống lại các chiến thuật bất đối xứng trong tương lai. Quân đội Hoa Kỳ sẽ cần tới khả năng phát hiện, theo dõi, và đánh bại các loại thiết bị bay không người lái vốn có khả năng gây nên các rủi ro về an ninh tại môi trường có đông dân cư. Quân đội cũng cần các loại thiết bị bay không người lái có khả năng cung cấp nhu yếu phẩm cho binh lính và dân thường tại những vùng chiến sự nóng bỏng. Nếu Hoa Kỳ có thể sở hữu những công cụ giúp ngăn chặn dễ dàng việc tuyển mộ tân binh của các nhóm nổi dậy trên mạng xã hội và lan truyền các thông tin sai lệch trong hàng ngũ của chúng, thì công cụ truyền thông và thu thập thông tin chiến lược của các nhóm này sẽ bị chặn đứng.

Một khi Hoa Kỳ chuẩn bị nhận diện nhiều mối đe doạ khác nhau trên nhiều phương diện địa lý khác nhau, cùng với một ngân sách quốc phòng hạn hẹp của chiến lược bù đắp lần thứ ba, thì sự tham gia của đồng minh vào quá trình đầu tư phát triển công nghệ chung là thật sự cần thiết. Tuy nhiên, khái niệm của các đồng minh về thế nào là đe doạ là khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí địa lý và văn hoá chiến lược. Nhật Bản và Đài Loan lo ngại mối đe doạ đến từ A2/AD của TQ; Israel và các đồng minh Ả-rập lo ngại chương trình hạt nhân của Iran và ISIL/Al-Qaeda; các nước châu Âu thì lại lo lắng nước Nga và chủ nghĩa khủng bố.

Trong hai chiến lược bù đắp trước đây, các khoản đầu tư quân sự khổng lồ chống lại mối đe doạ từ Liên Xô đã đảm bảo cho các đồng minh NATO rằng Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ và tạp áp lực gia tăng chi tiêu quốc phòng của chính họ. Một sự tập trung hạn chế vào mối đe doạ A2/AD của Trung cộng sẽ làm an lòng các đồng minh châu Á, nhưng mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các đồng minh Trung Đông và NATO sẽ bị ảnh hưởng. Cũng giống như trong trường hợp phát triển loại máy bay F-35, Lầu Năm Góc cần hợp tác chia sẻ chi phí với các đồng minh châu Âu và Trung Đông để đối phó với các công nghệ và chiến thuật bất đối xứng, cũng như giảm bớt chi phí và thúc đẩy hợp tác mang tính chiến lược.

Các công ty quốc phòng có thể đóng vai trò quan trọng, và có thể hưởng lợi thông qua việc đầu tư vào các công nghệ kể trên bởi vì chúng có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như an ninh nội địa, thực thi pháp luật, hay giao thông vận tải. Trong tương lai, các cơ quan an ninh trong nước, các nhà máy năng lượng và sân bay sẽ cần sở hữu khả năng nhận diện, theo dõi và tiêu diệt những loại thiết bị bay không người lái có khả năng đe doạ an ninh ở các khu vực dân sự cũng y hệt như những gì mà lực lượng quân đội sẽ làm trên chiến trường. Tương tự, việc nghiên cứu khả năng vận chuyển con người và hàng hoá bằng các thiết bị không người lái có thể mở ra một kỷ nguyên giao thông và hậu cần mới.

Hoa Kỳ đã rút ra được rất nhiều bài học trong việc phát động các chiến dịch chống khủng bố và chống nổi dậy – cũng như hiểu rằng các chiến dịch như vậy khó khăn và tốn kém như thế nào. Đây là một cơ hội có một không hai để có thể đưa ra các quyết định đầu tư thông minh và có trọng điểm phù hợp với các chiến dịch quân sự cường độ thấp vốn là nền tảng trong các cuộc xung đột ở tương lai. Hoa Kỳ đang phải đối mặt với những thách thức về quân sự và chiến lược to lớn, đặc biệt ở khu vực Thái Bình Dương với sự hiện diện của Trung cộng. Nhưng như lịch sử đã chứng minh, tác chiến bất đối xứng luôn tồn tại và sẽ luôn trở nên nguy hiểm hơn.

Benjamin Locks

Benjamin Locks là nhà phân tích cấp cao tại Avascent, nơi ông tiến hành nhiều hoạt động quản lý dự án chiến lược khác nhau như: đánh giá các sản phẩm công nghệ thị trường ngách, thẩm định và hỗ trợ các hoạt động mua bán sáp nhập, nghiên cứu thị trường biên và phân tích quá trình tiếp nhận vũ khí cấp độ liên bang ở thị trường nội địa và quốc tế.

<< Trở về bài: Cuộc Tấn Công của Đồng Đô La Mỹ<<

..

.

BAD GUYS KNOW WHAT WORKS:

ASYMMETRIC WAREFARE AND THE THIRD OFFSET

Benjamin Locks        

War On The Rocks June 23, 2015

 

“There are only two ways to fight the US: stupidly [conventionally] or asymmetrically” — Lieutenant General Herbert Raymond McMaster.

 

 

Photo credit: Spc. Eric James Estrada, U.S. Army

The Department of Defense is preparing the groundwork for a technology-focused third offset strategy while simultaneously working to turn the page on more than 12 years of military operations in Afghanistan and Iraq. During this time of transition from small wars to a focus on big ones, the department and the defense industry risk focusing too much time and money on the anti-access, area denial (A2/AD) threat posed by China in the Western Pacific at the expense of preparing for asymmetric warfare — particularly against sophisticated non-state groups and great powers employing similar tactics. These malicious actors are increasingly using a combination of defense and commercial technology, underscoring the need for the U.S. military and defense industry to start thinking like asymmetric bad guys, to both counter and create hybrid-defense technologies and programs through the third offset strategy. America’s post-World War II history has shown that low-intensity conflicts against insurgents and small powers are far more likely to occur, and can significantly damage U.S. interests, exact an outsized toll, and give future enemies a playbook from which to work.

We have seen how America’s struggles in Iraq and Afghanistan have made it more reluctant to use ground forces against the Islamic State in Iraq and the Levant (ISIL), and how insurgent tactics in Iraq migrated to Afghanistan and other theaters of conflict. If the United States decides to relegate insurgent and hybrid warfare to the heap of less-serious future threats, it risks expending more money and lives re-learning how to protect its interests abroad against future foes. The strategies and tactics of Russia and China, not to mention Iran or ISIL, may have more in common with insurgent forces than the kind of conventional air or naval engagements the U.S. military expects in a great power showdown. The explosion of commercial technology, repurposed for military capabilities and possibly supplemented by state-backed systems and training, only exacerbates this trend. The U.S. defense industry’s unique knowledge of U.S. and allied military requirements and capabilities means it can play a valuable role identifying and adapting commercial technology for our national security — as well as countering adversaries who may use similarly hybridized technologies against us.

Lieutenant General Herbert Raymond McMaster

Despite the technological advantage of the U.S. military, insurgents in Iraq and Afghanistan have proven their resilience in the face of large-scale campaigns. Groups like these are constantly innovating on the tactical and strategic levels because they are constantly at war, and defeat, for them, has existential consequences. Their military innovation curve is much faster by necessity. Insurgents tend to use new combinations of available commercial technologies to great military effect. Insurgents in Iraq combined cheap, commercially available cell phones and service with rudimentary explosives to create improvised explosive devices, and with the aid of Iranian designs, also produced explosively formed penetrators, which proved costly for U.S. forces. In the future, insurgents armed with commercially available drones or state-provided technology, could deny the U.S. military the staples of low-intensity conflict such as MQ-9 Reapers or Blackhawks in a strategically meaningful manner. Hezbollah has already demonstrated its ability to use anti-ship missiles against Israeli ships, and Hamas is trying to develop “suicide” drones.

Nor are non-state actors the only ones who will be likely to use commercially available technology and asymmetric tactics to achieve their military ends. China has used swarming fishing boats to bolster its territorial claims in the East and South China Seas and could use them for intelligence, surveillance and reconnaissance, or offensive operations in a time of war. Russia has shown its willingness to use unconventional tactics to occupy Crimea and eastern Ukraine. With new unmanned, communication, and remote sensing commercial and military technology, asymmetric warfare will cut across all military domains by actors small and large. If the third offset does not account for the diversity of enemies, asymmetric tactics and strategies, and their potential for military innovations, the military will run needless risks in the most common types of future conflicts.

The reason our technological advantage in Iraq and Afghanistan did not translate into a strategic advantage is because the technology we were using was not designed for that type of war. For example, precision-guided munitions, a staple of counter-insurgent/terrorist operations, were initially designed in the second offset to destroy massed Soviet armor in a war on the plains of central Europe. These munitions showed their effectiveness in accomplishing that objective by destroying Iraq’s Soviet-modeled army in the First Persian Gulf War. However, precision-guided munitions have not produced the same strategic advantage in Iraq and Afghanistan because that enemy did not rely on massed armor. The insurgents’ strategy was to use small-scale attacks, predominantly with improvised explosive devices and suicide bombers, against allied forces in order to slowly bleed us until we packed up and left. Our most advanced technology could not change this basic strategic fact. As commercial and military technology develops and proliferates, insurgents and hybrid forces will have yet more resources to execute an asymmetric strategy unless we develop counter-measures.

Proponents of a third offset based on conventional state-on-state war want to develop technology to counter A2/AD strategies that potential enemies may deploy. According to the Center for Strategic and Budgetary Assessment, key elements of a new offset strategy should include technologies that allow a persistent U.S. forward military presence to project power against adversaries with robust A2/AD networks and rely more on deterrence by denial and punishment. This strategy is clearly aimed at countries like China, Russia, and even Iran who have the potential to develop large-scale A2/AD networks and who have an address to punish. The Department of Defense is eager to invest in cutting-edge technologies and big-war operational concepts behind “Joint Concept for Access and Maneuver in the Global Commons,” such as unmanned undersea vehicles and longer-range precision-guided munitions. Yet, these efforts risk easily eclipsing more suitable weapons and strategies that can counter adversaries using hybrid warfare tactics. Insurgent and hybrid armies of the future will likely not have the A2/AD capabilities to deny access to F-35’s or the 7th Fleet, but it would be a mistake to underestimate our asymmetric adversaries because they do not spend as much on exotic weapons programs as the United States does.

There are a number of technological investments that could be featured in the third offset in order to counter future asymmetric tactics. The military will need the ability to identify, track, and defeat small drones that pose a security risk in civilian-rich environments. The military will also need unmanned aerial vehicles that can deliver supplies to soldiers and civilians in remote areas in contested environments. If the United States had a means of easily blocking insurgents’ recruitment messages via social media and spreading disinformation among their ranks, it could disrupt one of their prime means of strategic communication and intelligence.

As the United States prepares to address multiple threats across multiple geographies with a flat defense budget in the third offset, the need for allies to jointly invest in technological innovation is real. However, allies’ threat perceptions are quite different depending on their geography and strategic culture. Japan and Taiwan are concerned with the Chinese A2/AD threat; Israel and Arab allies with the Iranian nuclear program and ISIL/Al-Qaeda; and European allies with terrorism and Russia. In the previous two offset strategies, large investments in military capabilities against the Soviet threat also reassured NATO allies that the United States would come to their aid and pressured them to spend on their own militaries. A narrow focus on Chinese A2/AD threat may reassure Asian allies, but it may not help American relationships with NATO members and Middle Eastern allies. As it did with the F-35 development, the Pentagon could jointly fund research with European and Middle Eastern allies to counter hybrid technologies and tactics, and to reduce cost and promote strategic cooperation.

Defense companies could play a valuable role in this part of the third offset, and stand to gain by investing in these technologies because they would be able to address larger adjacent markets like homeland security, law enforcement, and transportation. In the future, domestic security agencies, power plants, and airports will need the ability to identify, track, and defeat small drones that pose a security threat in a civilian setting just as much as the military will on the battlefield. Likewise, research into the delivery of goods and people by unmanned platforms could usher in a new age of transportation and logistics.

The United States has learned a great deal about how to wage counterinsurgency and counterterrorist campaigns — and how difficult and costly they can be. This is a unique opportunity to make smart and targeted investments in technologies suited for low-intensity military operations that will continue to be a staple of future conflicts. There are big strategic and military challenges for America, particularly in the Pacific with China. But as history has shown, asymmetric warfare is not going away and if anything, it is only going to get more dangerous.

Benjamin Locks

Benjamin Locks is a Senior Analyst at Avascent, where he supports a wide variety of strategic project engagement types including: competitive niche technology product evaluations, due diligence, merger & acquisition support, adjacent market studies and federal procurement assessments in both national and international markets.

(From War On The Rocks)

 

Lt. Gen. Herbert Raymond McMaster as commander

of the Maneuver Center of Excellence in 2012.

Lieutenant General Herbert Raymond McMaster (born July 24, 1962 in Philadelphia, Pennsylvania) is an American soldier, and a career officer in the U.S. Army. His current assignment is Director, Army Capabilities Integration Center and Deputy Commanding General, Futures, U.S. Army Training and Doctrine Command. His previous assignment was commander of the Maneuver Center of Excellence at Ft. Benning, Georgia. McMaster previously served as Director of Combined Joint Interagency Task Force-Shafafiyat (CJIATF-Shafafiyat) (Transparency) at ISAF (International Security Assistance Force) Headquarters in Kabul, Afghanistan. He is known for his roles in the Gulf War, Operation Iraqi Freedom, Operation Enduring Freedom, and his reputation for questioning U.S. policy and military leaders regarding the Vietnam War.

Education: McMaster graduated from Valley Forge Military Academy in 1980, where he served as a Company Commander with the rank of Cadet Captain. He is a 1984 graduate of West Point, where he played rugby.

He holds Master of Arts and Ph.D. degrees in American History from the University of North Carolina at Chapel Hill, and authored a thesis critical of American strategy in the Vietnam War, which is detailed in his 1997 book Dereliction of Duty. It harshly criticizes high-ranking officers of that era, arguing that they inadequately challenged Defense Secretary Robert McNamara and President Lyndon Johnson on their Vietnam strategy. The book is widely read in Pentagon circles and is on the official reading list of the Marine Corps.

Early career: His first assignment after commissioning was to the 2nd Armored Division at Fort Hood, where he served in a variety of platoon and company level leadership assignments with 1st Battalion 66th Armor Regiment. In 1989, McMaster was assigned to the 2nd Armored Cavalry Regiment at Warner Barracks in Bamberg, Germany, where he served until 1992, including deployment to Operation Desert Storm.

During the Gulf War in 1991 he was a Captain commanding Eagle Troop of the 2nd Armored Cavalry Regiment at the Battle of 73 Easting. During that battle, though significantly outnumbered and encountering the enemy by surprise as McMaster's lead tank crested a dip in the terrain, the nine tanks of Eagle Troop destroyed over eighty Iraqi Republican Guard tanks and other vehicles without loss.

McMaster was awarded the Silver Star. The battle features in several books about Desert Storm and is widely referred to in US Army training exercises. It also receives coverage in Tom Clancy's 1994 popular non-fiction book Armored Cav. McMaster served as a military history professor at West Point from 1994 to 1996, teaching among other things the battles in which he fought. He graduated from the United States Army Command and General Staff College in 1999.

Later career: From 1999 to 2002, McMaster commanded 1st Squadron, 4th Cavalry Regiment, and then took a series of staff positions at U.S. Central Command (USCENTCOM), including planning and operations roles in Iraq.

In his next job, as Lieutenant Colonel and later Colonel, McMaster worked on the staff of USCENTCOM as executive officer to Deputy Commander Lieutenant General John Abizaid. When Abizaid received four-star rank and became Central Command's head, McMaster served as Director, Commander's Advisory Group (CAG), described as the command's brain trust.

In 2003 McMaster completed an Army War College research fellowship at Stanford University's Hoover Institution.

In 2004, he was assigned to command the 3rd Armored Cavalry Regiment (3rd ACR). Shortly after McMaster took command the regiment deployed for its second tour in Iraq and was assigned the mission of securing the city of Tal Afar. That mission culminated in September with Operation Restoring Rights and the defeat of the city's insurgent strongholds. President Bush praised this success, and the PBS show Frontline broadcast a documentary in February, 2006 featuring interviews with McMaster. CBS' 60 Minutes produced a similar segment in July, and the operation was the subject of an article in the April 10, 2006 issue of The New Yorker.

Author Tim Harford has written that the pioneering tactics employed by 3rd ACR led to the first success in overcoming the Iraqi insurgency. Prior to 2005, tactics included staying out of dangerous urban areas except on patrols, with US forces returning to their bases each night. These patrols had little success in turning back the insurgency because local Iraqis who feared retaliation would very rarely assist in identifying them to US forces. McMaster deployed his soldiers into Tal Afar on a permanent basis, and once the local population grew confident that they weren't going to withdraw nightly, the citizens began providing information on the insurgents, enabling US forces to target and defeat them.

McMaster passed command of the 3rd Armored Cavalry Regiment on June 29, 2006 and joined the International Institute for Strategic Studies in London, as a Senior Research Associate with a mandate described as "conduct[ing] research to identify opportunities for improved multi-national cooperation and political-military integration in the areas of counterinsurgency, counter-terrorism, and state building", and to devise "better tactics to battle terrorism."

From August, 2007 to August, 2008 McMaster was part of an "elite team of officers advising US commander" General David Petraeus on counterinsurgency operations in Iraq.[9] Petraeus and most of his team were stationed in Fort Leavenworth at the time but McMaster collaborated remotely, according to senior team member John Nagl.

Promotion controversy and career as a general officer: McMaster was passed over for promotion to Brigadier General in 2006 and 2007, despite his reputation as one of "the most celebrated soldiers of the Iraq War."[10] Though the rationale for promotion board decisions is not made public, it is generally agreed that McMaster was held back because of his tendency to argue against the status quo.

McMaster was nominated for Brigadier General on the 2008 promotion list.[14] Secretary of the Army Pete Geren had requested General Petraeus to briefly return from Iraq to take charge of the promotion board as a way to ensure that the best performers in combat received every consideration for advancement, and it is generally acknowledged that Petraeus's presence ensured that McMaster was among those selected.

In August, 2008 McMaster assumed duties as Director, Concept Development and Experimentation (later renamed Concept Development and Learning), in the Army Capabilities Integration Center (ARCIC) at Fort Monroe, Virginia, part of U.S. Army Training and Doctrine Command. In this position McMaster was involved in preparing doctrine to guide the Army over the next ten to twenty years. He was promoted on June 29, 2009.

In July 2010 he was selected to be the J-5, Deputy to the Commander for Planning, at ISAF (International Security Assistance Forces) Headquarters in Kabul, Afghanistan. Additionally, McMaster directed a joint anti-corruption task force (CJIATF-Shafafiyat) at ISAF Headquarters.

The promotion issue re-surfaced in 2011, when he was not selected for Major General along with his peers despite being called "probably our best Brigadier General" by Army Chief of Staff General Martin Dempsey.

McMaster as commander of the Maneuver Center of Excellence in 2012.

McMaster was nominated for Major General on January 23, 2012. In April, 2012 he was announced as the next commander of the Army's Maneuver Center of Excellence (MCoE) at Ft. Benning.

On June 13, 2012 McMaster assumed command of the MCoE and was promoted to Major General at a ceremony at Ft. Benning.

On February 18, 2014 Defense Secretary Chuck Hagel announced the nominations of four officers for promotion to Lieutenant General, including McMaster, who was selected to become Deputy Commander of the Training and Doctrine Command and Director of TRADOC's Army Capabilities Integration Center.

“It is heartening to see the Army reward such an extraordinary general officer who is a thought leader and innovator while also demonstrating sheer brilliance as a wartime brigade commander,” retired Army Gen. Jack Keane, a former Army vice chief, said of the promotion.

In April 2014, Maj General McMaster made Time magazine's list of 100 most influential people in the world. He is hailed as "the architect of the future U.S. Army" in the accompanying piece written by retired Lt. Gen. Dave Barno, who commanded U.S. and allied forces in Afghanistan from 2003 to 2005

"Major General Herbert Raymond McMaster might be the 21st century Army's pre-eminent warrior-thinker," Barno wrote. "Recently tapped for his third star, H.R. is also the rarest of soldiers—one who has repeatedly bucked the system and survived to join its senior ranks."

McMaster is cited for his "impressive command and unconventional exploits in the second Iraq war," Barno wrote.

In July 2014 McMaster was promoted to Lieutenant General and began his duties at the Army Capabilities Integration Center

<< Trở về bài: Cuộc Tấn Công của Đồng Đô La Mỹ<<

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

 

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 13 Feb 2017 08:38 PM