Các bài trong đề mục

Tài Liệu

theo thứ tự abc

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Trong năm 2011

Trong năm 2012

Trong năm 2013

Trong năm 2014

Trong năm 2015

 

Tháng 01 năm 2016

Tháng 02 năm 2016

Tháng 03 năm 2016

Tháng 04 năm 2016

Tháng 05 năm 2016

Tháng 06 năm 2016

Tháng 07 năm 2016

Tháng 08 năm 2016

Tháng 09 năm 2016

Tháng 10 năm 2016

Tháng 11 năm 2016

Tháng 12 năm 2016

 

Chiến Lược Thống Trị

Châu Á - Thái Bình Dương của Trung cộng

 

đây là 5 bài viết về “Chiến lược thống trị khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Trung cộng” (Trung cộng). Tác giả là Tiến sĩ Patrick M. Cronin, Giám đốc cấp cao (Senior Director) tại Chương trình An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (the Asia-Pacific Security Program) thuộc Trung tâm An ninh Hoa Kỳ Mới (New American Security) và là cựu Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc gia (Director of the National Defense University’s Institute) trực thuộc Đại học Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ (National Defense University’s Institute for National Strategic Studies) viết, được đăng trên War On The Rocks.

 

Bài 1: Bá quyền khu vực của Trung cộng: một thước phim quay chậm.

Bài 2: Chiến lược “đảo hoá” và tham vọng bá quyền khu vực của Trung cộng.

Bài 3: Các nước Đông Nam Á trước nỗ lực bá quyền của Trung cộng.

Bài 4: Mười bước để Mỹ ngăn chặn chiến lược của Trung cộng.

Bài 5: Đáp trả Trung cộng: hợp tác dựa trên sức mạnh.

*  *  *

1. Bá Quyền Khu Vực của Trung cộng:

Một Thước Phim Quay Chậm

1. Chinese Regional Hegemony in Slow Motion

 

By Patrick Cronin

Nguyễn Thế Phương dịch và Hiệu đính

 

War On The Rock - May 18, 2015

 

Chiến hạm tấn công nhanh lớp Houbei 022 của HQ Trung cộng

Chúng ta đang ở giữa một cuộc cạnh tranh khốc liệt ở châu Á. Kẻ thúc đẩy cuộc cạnh tranh này chính là một đất nước Trung cộng (Trung cộng) đang ngày càng trở nên hùng mạnh, với mục tiêu thiết lập lại các quy tắc ứng xử trên toàn bộ khu vực ngoại vi của mình; trong đó biển Đông chính là trọng tâm đối đầu chính yếu. Thông qua quá trình mở rộng ảnh hưởng của mình tại Đông Nam Á, Trung cộng có thể chỉ đơn giản nghĩ rằng bản thân đang cố gắng xác lập lại vị thế lịch sử vốn có của mình như là một cường quốc thống trị khu vực. Trung cộng cũng có thể cho rằng các hành động mà nước này đang thực hiện chỉ mang tính chất phòng thủ, được tạo ra nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, tiếp cận với các nguồn tài nguyên và những tuyến đường hàng hải quan trọng.

Tuy nhiên, Bắc Kinh nhận ra rằng trật tự quốc tế sau Thế chiến thứ hai chủ yếu do Hoa Kỳ xây dựng vẫn là một lực cản cho việc hoàn thành các mục tiêu kể trên. Vì vậy, Trung cộng hy vọng sẽ thay thế vị trí của Hoa Kỳ và, một cách chậm rãi, thống trị toàn bộ các quốc gia láng giềng theo một cách thức tránh tạo ra những phản ứng dữ dội, đúng thời điểm và mang tính quyết định (từ các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ – ND)

Thật không may, Hoa Kỳ lại chưa có bất cứ một chính sách nào nhằm đón đầu yếu tố thực tế này. Tại Washington, những việc cấp bách thường được ưu tiên hơn những thứ vốn mang tính quan trọng. Nếu chúng ta chờ đợi những thay đổi quan trọng như hiện tại ở Đông Nam Á diễn ra theo đúng như xu hướng hiện nay, Hoa Kỳ và các đối tác cũng như đồng minh của mình sẽ không những sớm mất đi quyền kiểm soát các quy tắc và quy chuẩn hành vi tại khu vực, mà còn sẽ phải đối mặt với những rủi ro an ninh lớn hơn nữa trong tương lai.

Mặc dù Trung cộng mong muốn khẳng định quyền lực lớn hơn của mình tại khu vực ngoại vi, nước này không phải là kẻ thù của Hoa Kỳ. Trung cộng không tìm kiếm chiến tranh, thay vào đó nước này muốn xác lập điều kiện và khẳng định ảnh hưởng trong một nền hoà bình nóng (contested peace). Mục tiêu đầu tiên của Trung cộng là đảm bảo sự ổn định về mặt kinh tế và chính trị: duy trì tăng trưởng kinh tế và sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung cộng (CCP). Cả hai trụ cột trên của CCP đang bị lung lay dữ dội, khi tăng trưởng kinh tế hiện tại đang giảm tốc, trong khi đó tầng lớp trung lưu trỗi dậy cũng như các nông dân ương bướng ở vùng thôn quê đang tìm cách thay đổi xã hội.

Trong nhiệm kỳ của Chủ tịch Tập Cận Bình, quyền lực và sự tự tin của Trung cộng đã gia tăng đến mức độ mà mong muốn sở hữu một vùng ảnh hưởng lớn hơn trên thực tế của nước này đã làm xói mòn trật tự khu vực đã tồn tại từ trước tới nay. Được thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc và các vấn đề an ninh, Trung cộng đã gia tăng nỗ lực nhằm thay thế, ngăn chặn và từ chối quyền lực của Hoa Kỳ. Trung cộng cũng cố gắng vô hiệu hoá khả năng quân sự thông thường đáng nể của Hoa Kỳ thông qua các năng lực chống xâm nhập/chống tiếp cận, trong khi phủ đầu mọi nỗ lực nhằm tập hợp các quốc gia Đông Nam Á trong một liên minh chống lại Trung cộng.

Trong khi Trung cộng không phải là kẻ thù, quốc gia này rõ ràng lại là một đối thủ cạnh tranh không thể coi thường – một đối thủ đủ sức vượt trội Hoa Kỳ. Nói về các xu hướng quốc tế hiện nay, Trung cộng đã có khả năng liên kết với Nga và các nước khác để hình thành nên một lực lượng đa cực, giúp Trung cộng có thêm khả năng tương tác với các quốc gia láng giềng.

Tận dụng vị thế là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, Bắc Kinh đã miêu tả quyền lực quân sự của Hoa Kỳ là một nguy cơ đối đầu tiềm năng. Thông qua sử dụng tất cả các công cụ ngoại giao, Trung cộng có khả năng thúc đẩy nhiều sáng kiến – phần lớn là các khẩu hiệu đưa ra một cách liên tục để kiểm tra mức độ khả thi – nhằm gia tăng quyền lực của mình dựa trên cái giá phải trả của các quốc gia khác. Xuất hiện một cuộc đối đầu bằng ngôn từ tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong vòng hai năm qua, Trung cộng đã cố gắng tự đánh bóng bản thân như một cường quốc hàng đầu, không chỉ quan tâm tới chủ nghĩa trọng thương, mà còn tới sự phát triển ở khu vực. Trong khi đó, Trung cộng lại mô tả Hoa Kỳ như một quốc gia chỉ chăm chăm tìm kiếm các thoả thuận có lợi cho bản thân mình, từ các liên minh đến một khối thương mại chỉ gồm 12 quốc gia (Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương), cho tới sự phản đối ban đầu của Washington đối với Ngân hàng Đầu tư và phát triển hạ tầng (AIIB) do Trung cộng dẫn đầu.

Chiến lược của Trung cộng không hẳn là “không chiến mà thắng” như Tôn Tử đã nói, mà là đặt bản thân vào một vị thế có lợi để có thể tự kiểm soát số phận của mình và định hình môi trường xung quanh thông qua các chiến dịch thông tin, pháp lý và tâm lý (được gọi là “tam chủng chiến pháp”, hay “ba dạng thức chiến tranh”), kết hợp với một cách tiếp cận gián tiếp khi đề cập tới phòng thủ quân sự.

Các nỗ lực hiện đại hoá quân đội của Trung cộng được công bố công khai với mục tiêu làm thay đổi nhận thức của các quốc gia láng giềng nhỏ hơn, đặc biệt khi các quốc gia này đang nghi ngờ sức mạnh cũng như ý chí về mặt chính trị của Hoa Kỳ trong tương lai trong việc bảo vệ họ cũng như đóng vai trò như một tác nhân giúp cân bằng quyền lực khu vực. Sự phát triển của Quân đội Giải phóng quân Nhân dân (PLA) là nhanh chóng, hiệu quả và đã có khả năng làm phức tạp hoá khả năng triển khai quân sự của Hoa Kỳ trong tương lai tới Đông Á để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh.

Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa thể đạt tới mức độ khiến cho quân đội Hoa Kỳ gặp phải nhiều khó khăn nếu như chiến tranh xảy ra. Thực sự, Trung cộng đang bị răn đe rất lớn bởi một liên minh Mỹ-Nhật đang được tiếp thêm sinh khí, trong đó Nhật đóng vai trò dẫn dắt tích cực hơn với quyết tâm phòng thủ chuỗi đảo phía tây nam, kèm theo là một khả năng phối hợp liên minh như đã đề cập trong các định hướng quốc phòng mới. Trong khi đó, thế đứng vững chắc của liên minh tại biển Hoa Đông đã phần nào làm giảm đi sự hung hăng của Trung cộng tại biển Đông, vùng biển vốn không có một cam kết nào giống như Điều khoản số 5 [*] nhưng đồng thời lại xuất hiện nhiều chủ thể và tuyên bố tranh chấp đe doạ gây mất cân bằng khu vực.

Một cách tiếp cận gián tiếp thúc đẩy thứ mà chúng ta gọi là “quyền lực thông minh”. Đối với người Trung cộng thì điều đó bao gồm xây dựng một hệ thống công cụ chính sách vừa cứng vừa mềm một cách đa dạng, và phối hợp chúng với nhau theo mức độ nông sâu tuỳ trường hợp nhằm đạt được một cán cân cân bằng có lợi, trong cả hiện tại và tương lai. Thậm chí ngay cả những bước đi có thể được coi là ôn hoà, ví dụ như đột nhiên tham gia vào các nỗ lực xây dựng lòng tin hay phát triển cơ sở hạ tầng dưới hình thức sáng kiến “một vành đai, một con đường”, đều có thể làm chệnh hướng những phản ứng tiêu cực nhất thời về chính sách và nếu trở thành hiện thực, sẽ giúp Bắc Kinh ngăn chặn đối thủ đưa ra những bước đi tiếp theo.

Quá trình điều chỉnh và tái điều chỉnh liên tục các công cụ chính sách có thể được tóm gọn trong câu nói “lùi một bước, tiến hai bước”. Trung cộng đang tìm mọi cách tăng cường quyền lực ở khu vực, thúc đẩy chuyện này ngay khi có cơ hội cũng như dịch chuyển xu hướng cũng như các thông điệp khi cần thiết để thích ứng với những chi phí và rào cản ngày một gia tăng. Đó là còn chưa nói tới việc Trung cộng đã thực hiện thành công chiến lược cổ điển của mình.

Tôi đã có dịp tham gia nhiều hội thảo nơi mà cùng một quan chức hay chuyên gia người Trung cộng đã đồng thời tuyên bố rằng không một ai có thể ngăn cản bước tiến của Trung cộng và rằng Trung cộng đang bị ức hiếp bởi một nước láng giềng. Tâm lý nạn nhân xen kẽ với những tuyên bố hùng hồn khẳng định khu vực ảnh hưởng, vốn thích hợp với tình hình chính trị thế kỷ 19 nơi các nước lớn có thể kiểm soát các nước nhỏ hơn. Thông điệp chung không phải lúc nào cũng được hiểu theo đúng ý nghĩa của nó, cho dù mục tiêu của Trung cộng cũng không phải là đưa ra một lập luận rõ ràng. Nhiều khi để thuận tiện hơn, họ đưa ra nhiều tầng lập luận, nhưng lại mâu thuẫn nhau.

Chiến lược của Trung cộng cũng thường đi kèm với yếu tố thời gian của các diễn biến chính trị. Trung cộng mong muốn tạo ra một sự chắc chắn cho quyền lực của mình trong tương lai, và những hành vi đang xuất hiện ở Trung cộng trong hiện tại mang lại nhiều hệ luỵ. Trong ngắn hạn, Bắc Kinh đơn giản chỉ khai thác về mặt thời điểm các sự kiện chính trị quan trọng ví dụ như bầu hay luân phiên các chức vụ chủ tịch trong các tổ chức khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Lúc khác, Trung cộng lại có ý định trì hoãn các hành động mang tính tập thể bằng cách cáo buộc mắt xích yếu nhất trong nền chính trị khu vực gây ra sự bất ổn định. Đó là, nếu như Philippines hay Việt Nam phản ứng thật sự mạnh mẽ trước các hành động gây hấn của Trung cộng, thì Bắc Kinh lập tức tìm cách thuyết phục các thành viên ASEAN khác rằng một quốc gia nào đó đang cố gắng gây mất ổn định toàn bộ trật tự khu vực.

Trung cộng cũng đã sử dụng con bài lịch sử, hay trong trường hợp tranh chấp biển Đông, là con bài chủ quyền lịch sử. Tạo ra một đảo nhân tạo và giới thiệu nó như là một công cụ thúc đẩy hợp tác khu vực – bản thân một hòn đảo như thế có phải là của Trung cộng hay không theo luật pháp quốc tế đã là một chuyện khó có thể phân định rõ ràng, chưa kể hòn đảo đó cũng sẽ không tạo ra cho Trung cộng bất kỳ một hình thức chủ quyền nào nểu bản thân nó trước đây là một bãi cạn nửa chìm nửa nổi – là cách thức giúp cho nước này hiện thực hoá các tuyên bố lập lờ của mình về chủ quyền lịch sử.

Mặc cho những đặc điểm chiến lược của Trung cộng như đã đề cập ở trên, chúng ta cũng không nên giả định rằng giới lãnh đạo nước này có một bản hướng dẫn đường đi nước bước chi tiết. Nếu điều đó là đúng, thì những cụm từ như “đại trẻ hoá” (great rejuvenation) và “giấc mơ Trung Hoa” đã được đi kèm với những mục tiêu chi tiết hơn nhiều. Thực tế, đã có nhiều nỗ lực quan trọng nhằm nghiên cứu các thách thức mà ông Tập phải đối mặt trong khi điều hành một đất nước Trung cộng hiện đại, đa dạng, và cực kỳ dễ vỡ. Lưu ý tới những nguồn gốc gây ra mất an ninh ở Trung cộng hay tính dễ bị tổn thương của quốc gia này sẽ có vai trò quan trọng trong việc đưa ra những bước đi hữu ích nhằm thuyết phục Trung cộng dựa nhiều hơn vào xu hướng hợp tác đa phương chứ không phải là các hành vi cưỡng ép đơn phương. Như Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã nói với người đồng cấp Trung cộng, rằng Bắc Kinh nên tập trung xây dựng và thúc đẩy hợp tác khu vực hơn là xây dựng các đảo nhân tạo.

Patrick Cronin

Nguyễn Thế Phương dịch và hiệu đính

 

Chú thích:

 [*] Điều khoản số 5 (Article V) trong Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương nói rằng các thành viên của NATO phải xem xét hỗ trợ đồng minh của mình khi bị tấn công, nhưng không đảm bảo sự hỗ trợ chắc chắn sẽ xảy ra.

  

2. Chiến Lược “Đảo Hóa” và Tham Vọng

Bá Quyền Khu Vực Của Trung cộng

2. How China’s Land Reclamation Fits In

Its Regional Strategy for Dominance

 

Lê Thanh Danh dịch Nguyễn Thế Phương hiệu đính

May 20, 2015

Photo credit: Swaminathan

Một số nhà phân tích cho rằng “đội hình” đảo nhân tạo của Trung cộng trên Biển Đông không đáng gây ra bận tâm lo lắng vì chúng có thể bị “xử” dễ dàng một khi chiến tranh nổ ra. Tuy nhiên, họ không nhìn ra được cách thức mà những hòn đảo này gắn kết vào chiến lược “chậm mà chắc” đưa Trung cộng trở thành bá quyền khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Trước một Trung cộng đang trỗi dậy, Hoa Kỳ và các quốc gia trong khu vực luôn muốn vừa tối đa hóa hợp tác, lại vừa tối thiểu hóa xung đột. Chính điều này đã đẩy chúng ta rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan trước các hành động hung hăng và mang tính cưỡng ép của Trung cộng, ví dụ như hành vi xây đắp các đảo nhân tạo. Trung cộng đang tích cực gia tăng gấp đôi diện tích đất trên Biển Đông mà họ có ban đầu. Họ tìm cách biến tuyên bố chủ quyền mập mờ về đường chín đoạn, bao phủ gần hết toàn bộ Biển Đông (điều theo Hoa Kỳ là không có cơ sở pháp lý), thành một “chuyện đã rồi”. Bắc Kinh cũng đã từ chối không tham gia vào vụ kiện được đệ trình bởi Philippines trước Tòa Trọng tài về Luật Biển (ITLOS). Điều này đặt một dấu hỏi lớn về các lợi ích thực sự của Trung cộng liên quan tới việc tuân thủ pháp luật quốc tế.

Học giả người Úc Alan Dupont mô tả hành động hiện nay của Trung cộng là hành vi cải tạo địa lý nhằm mở đường cho tham vọng kiểm soát Biển Đông. Rõ ràng tham vọng chiến lược của Trung cộng là tăng khả năng triển khai nguồn lực tại các vùng biển gần, nhằm tương xứng với sự gia tăng về sức mạnh và vị thế của Trung cộng. Điều này còn được thúc đẩy bởi một não trạng đòi “công bằng lịch sử”, chủ nghĩa dân tộc và các động lực chính trị trong nước.

Các quan chức Trung cộng cũng cố tìm cách để giải thích những hành động của họ. Có lập luận cho rằng Trung cộng đang cải tạo các thực thể chìm, xây dựng cảng và đường băng như một loại hàng hóa công toàn cầu (global public good). Theo Đô đốc Wu Shengli (Ngô Thắng Lợi), “khi các điều kiện thích hợp”, Trung cộng sẵn lòng mở cửa các đảo nhân tạo để phục vụ hợp tác quốc tế, như viện trợ nhân đạo hoặc tìm kiếm và cứu nạn. Trong một lập luận khác, Trung cộng cho rằng chính vì Việt Nam và Philippines đã “đi trước” nên buộc họ phải xây dựng cơ sở của riêng mình trên Biển Đông. Nhưng thực tế là hoạt động của Trung cộng có quy mô bỏ xa các quốc gia còn lại. Không những thế, như một kiểu đe dọa mơ hồ và dễ chối cãi khi bị gặng hỏi, ít nhất một quan chức Trung cộng đã khẳng định rằng các cơ sở này là để hỗ trợ “chất lượng cuộc sống các binh sĩ” – như có mong muốn nhắn nhủ các quan chức Hoa Kỳ rằng Trung cộng có dự định xây dựng ra-đa, đường băng, cơ sở neo đậu tàu và các doanh trại quân đội trên các tiền đồn này.

Không cần phải có khả năng tiếp cận các kế hoạch bí mật của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng (PLA) mới có thể hiểu được những mục đích tiềm tàng của quá trình bồi đắp đảo: chúng giúp tăng khả năng triển khai sức mạnh của Trung cộng, và làm suy giảm khả năng triển khai sức mạnh của Hoa Kỳ. Chẳng hạn như trong trường hợp Trung cộng gây sức ép lên Đài Loan, Hoa Kỳ sẽ tốn nhiều thời gian hơn nếu muốn hỗ trợ cho Đài Loan. Điều này hoàn toàn khác với cách mà chúng ta đã từng làm khi điều động hai hàng không mẫu hạm đến eo biển Đài Loan những năm 1995-1996. Hơn nữa, các đường băng và những cơ sở trên Trường Sa và Hoàng Sa sẽ là bàn đạp để Trung cộng có thể thiết lập sự kiểm soát cả trên biển lẫn trên không, chưa kể đến Vùng Nhận diện Phòng Không (ADIZ). Khi Trung cộng bất ngờ tuyên bố thiết lập ADIZ trên biển Hoa Đông vào tháng 11 năm 2013, người ta nhanh chóng nhận ra Trung cộng không có khả năng đảm bảo thực thi kiểm soát vùng này trên thực tế.

Thông qua đảo nhân tạo, PLA có khả năng thiết lập kiểm soát đối với những chuyển động trên Biển Đông. Điều này làm gia tăng các phí tổn trong trường hợp Hoa Kỳ muốn tuần tra trên vùng biển quốc tế và cũng đồng thời là khu vực mà Trung cộng khẳng định là Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của mình. Đặc biệt, Trung cộng có khả năng xây dựng một vùng trú ẩn cho các tàu ngầm tên lửa liên lục địa (SSBN), một phần trong chiến lược cải thiện vị thế hạt nhân của Trung cộng. Một chiến lược triển khai SSBN như thế sẽ giúp cho Trung cộng xây dựng được một lực lượng hạt nhân cơ động, có khả năng sống sót cao hơn, đủ khả năng đe dọa Hoa Kỳ do đảm bảo cơ hội triển khai khả năng tấn công hạt nhân đáp trả. Mặc dù không ai muốn phải sử dụng đến vũ khí hạt nhân, tác động chính của chiến lược này là nhằm suy giảm “sức nặng” chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ với đồng minh trong khu vực, từ đó gia tăng sự thống trị của Trung cộng. Tại châu Á cũng như bất kỳ nơi nào khác, tầm nhìn thường có ý nghĩa tương đương hoặc thậm chí là lớn hơn cả thực tế.

Một vài cựu quan chức Hoa Kỳ và các chuyên gia nổi tiếng cho rằng Washington không được phép để cho các động thái tại Biển Đông phá hoại mối quan hệ rộng lớn hơn với Trung cộng. Tôi cũng đồng ý với quan điểm này. Thay vì tranh luận về một cuộc chơi một mất một còn với Trung cộng, vấn đề cần giải quyết là chúng ta có nên đặt ra lằn ranh đối với các hành vi bị coi là sai trái hay không, và cần phải vẽ lằn ranh này ra sao. Nghịch lý ở đây là, nếu chúng ta nhìn mối quan hệ cạnh tranh về mặt an ninh giữa Hoa Kỳ và Trung cộng tại khu vực như là biểu tượng của quan hệ toàn cục, chứ không phải chỉ là một ganh đua đơn thuần, thì điều này sẽ khiến cho mối quan hệ chung giữa hai bên trở nên xấu đi. Hơn thế nữa, rủi ro xảy ra các rạn nứt lớn đến từ sự phản đối của Hoa Kỳ đối với các hành vi gây bất ổn định là không lớn, vì bản thân Trung cộng vẫn xem trọng mối quan hệ Mỹ – Trung và không muốn mối quan hệ đó tan vỡ.

Thay vào đó, chúng ta nên cân nhắc những hệ quả khi không dám đứng lên bảo vệ những chuẩn tắc quốc tế, bảo vệ các đồng minh và đối tác của mình. Nếu các hành động và thái độ sai trái không bị trừng phạt, nếu các hành vi này không chuốc lấy hậu quả gì, thì mọi cường quốc sẽ không có bất kỳ động lực nào để tuân thủ các chuẩn mực, các quy tắc ứng xử và luật pháp quốc tế. Nói cách khác, thách thức ở đây không phải là nguy cơ chiến tranh (không kể đến những hành vi cẩu thả thiếu tính toán, vốn là những vấn đề thật sự nguy hiểm). Thách thức là làm sao cân bằng được sự đối nghịch giữa một bên là hợp tác Mỹ – Hoa và bên kia là nhu cầu làm rõ những hành vi nào được xem là vi phạm những chuẩn tắc của khu vực.

Một Trung cộng không được kiểm soát sẽ hiện thực hóa sự chi phối bá chủ trên các vùng biển gần. Đó mới là rủi ro thật sự. Tương lai này có thể được nhìn thấy phần nào trong cuộc khủng hoảng năm 2012 xung quanh Bãi cạn Scarborough. Việc Philippines xua đuổi những tàu cá Trung cộng trong vùng biển mà Manila tuyên bố chủ quyền đã nhanh chóng leo thang thành một cuộc đối đầu kéo dài hàng tháng trời giữa hải quân Trung cộng và Philippines. Lúc đó, Washington đã trấn an Manila và thuyết phục Philippines rằng Hoa Kỳ sẽ hạ nhiệt khu vực. Nhưng thực tế cuối cùng thì Trung cộng vẫn quay trở lại Bãi cạn Scarborough và kiểm soát vô thời hạn khu vực tranh chấp này, mặc dù Scarborough nằm sâu bên trong vùng EEZ của Philippines. Ở cấp độ cá nhân, một số học giả Trung cộng đã xem vụ việc này như mô hình cưỡng bức mở rộng của Hoa Kỳ, vừa gây áp lực hiệu quả đối với một đồng minh của Hoa Kỳ, vừa buộc Washington không thể can dự. Chiêu bài này lại được tái diễn với các cơ sở hạ tầng quân sự hiện đang được Trung cộng xây dựng trên các đảo nhân tạo. Từ góc nhìn này, chúng ta có vẻ đã sẵn sàng để Trung cộng cướp lấy Biển Đông chỉ vì một nỗi sợ mơ hồ rằng Bắc Kinh sẵn sàng hy sinh lợi ích hợp tác kinh tế với Hoa Kỳ và các quốc gia khác.

Các quy tắc quản trị tại Châu Á – Thái Bình Dương mang ý nghĩa quan trọng. Mô típ hành vi gần đây của Trung cộng cho thấy Bắc Kinh chắc chắn đang nỗ lực hạn chế Hoa Kỳ hội nhập vào khu vực năng động nhất thế giới. Trung cộng sẽ quyết định việc tiếp cận các lợi ích chung toàn cầu. Mặc dù Bắc Kinh luôn nói chuyện kiểu “cả hai cùng thắng”, họ lại thật sự có ý rằng Trung cộng sẽ “thắng tất”.

Một mình Hoa Kỳ có thể thúc đẩy khu vực hướng tới bảo vệ và đưa ra những luật lệ công bằng với tất cả các quốc gia. Giúp cho Trung cộng phát triển tầng lớp trung lưu của họ là một việc tốt, nhưng để cho Trung cộng xây dựng cơ sở quân sự trên đảo nhân tạo thì không tốt chút nào. Giúp Trung cộng và khu vực hiểu được sự khác biệt này sẽ là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng trong các chính sách của Hoa Kỳ trong những năm sắp tới.

3. Các Nước Đông Nam Á

trước Nỗ Lực Bá Quyền của Trung cộng

3. In Search of a Southeast Asian

Response To China’s Bid for Dominance

 

Nguyễn Trần Bảo Yến dịch Nguyễn Thế Phương hiệu đính

May 18-2015.

Chiếc LCU 1633 của HQ Trung cộng trên biển Đông

Đôi khi muốn duy trì trật tự đòi hỏi phải thực thi các quy tắc công bằng, thậm chí có khi phải đối mặt với những nguy cơ đối đầu mang tính nhất thời. Điển hình là trường hợp máy bay tuần tra Poseidon P8-A của Mỹ bay ngang Đá Chữ Thập và các đảo nhân tạo khác. Đá Chữ Thập và các dự án cải tạo đảo cho thấy những nỗ lực trắng trợn của Trung cộng biến đường lưỡi bò 9 đoạn gây tranh cãi nhằm độc chiếm phần lớn vùng biển Đông trở thành việc đã rồi – trước khi tòa án quốc tế thông báo về tính hợp pháp của yêu sách này. Đá Chữ Thập không chỉ là một dự án đảo nhân tạo mang tính khiêu khích mà không lâu nữa, thực thể này sẽ trở thành một căn cứ quân sự mà quân đội Trung cộng và các lực lượng chấp pháp có thể sử dụng để vận hành máy bay và tàu thủy.

Khi Trung cộng trỗi dậy, các quốc gia Đông Nam Á cũng trỗi dậy. Những lo lắng về sự trỗi dậy của các quốc gia này đã kích thích Hoa Kỳ thực hiện một chính sách tích cực hơn được gọi là xoay trục, hay tái cân bằng. Quá trình tái cân bằng này đặc biệt thừa nhận tính thiết yếu của việc tương tác nhiều hơn với những đối tác cả cũ lẫn mới ở Đông Nam Á, bên cạnh sự hiện diện lâu dài Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á. Mặc dù tồn tại cả cơ hội và rủi ro cho Hoa Kỳ trong việc thúc đẩy mối quan hệ lâu dài với các nước Đông Nam Á, nhưng quyết định nên được đưa ra dựa trên bối cảnh quan hệ giữa các nước Đông Nam Á và Trung cộng. Bởi vì ASEAN chủ yếu dè dặt trong các hành động của mình, nên vai trò của Hoa Kỳ là quan trọng trong việc đảm bảo việc tiếp cận hàng hóa công toàn cầu như tự do hàng hải và chia sẻ các lợi ích chung. Nhưng Washington vẫn phải tiếp tục vận động dư luận khu vực sau khi vạch rõ giới hạn giữa các hành vi xấu và các quy tắc công bằng.

ASEAN là một thể chế chính trị thành công, tạo ra vô số cơ hội trao đổi quan trọng cho giới ngoại giao. Nhưng tổ chức này nổi tiếng là ngại rủi ro khi phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng. Trung cộng đang dựa vào nhược điểm này và sử dụng chiến thuật chia để trị bất cứ khi nào 10 nước ASEAN cho thấy sự thống nhất về một vấn đề nào đó, thậm chí là về một thông cáo rộng rãi vốn có thể được xem là đi ngược lại lợi ích của Trung cộng. Chính vì các nước Đông Nam Á có lợi ích đa dạng như vậy, Trung cộng có thể dễ dàng tìm thấy những sơ hở để kéo các quốc gia ra xa nhau. Ngoài ra, bởi vì tất cả các nước láng giềng trong khu vực đều là bạn hàng giao thương chủ yếu với Trung cộng nên Bắc Kinh có thể đưa ra các ưu đãi (hoặc đe dọa) để đổi lấy sự hợp tác. Điều này giúp giải thích tại sao trong năm 2012, lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của tổ chức này, các ngoại trưởng ASEAN không thể đưa ra một tuyên bố chung, do những bất đồng về việc có nên xem Biển Đông như là một vấn đề an ninh đáng quan tâm hay không.

Tuy nhiên, thậm chí Malaysia, một quốc gia cực kỳ thận trọng và luôn đề cao mối quan hệ thương mại với Trung cộng nếu so sánh với bất kỳ nước thành viên ASEAN nào, đã cho thấy một động thái đoàn kết với các nước ASEAN khác trong tháng Tư năm nay, khi tuyên bố rằng việc cải tạo đảo trên vùng biển đang tranh chấp ở Biển Đông đã “gây xói mòn lòng tin và có thể phá hoại hòa bình, an ninh và ổn định.” Tuyên bố này như là một lời nhắc nhở về những gì đang kết nối các thành viên ASEAN với nhau: cụ thể là, nỗi sợ hãi đến từ sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Trong nhiều năm qua, Trung cộng trở thành mối quan tâm chính trên phương diện này, và Philippines và Việt Nam đã phải chịu đựng gánh nặng đến từ sự hung hăng của Trung cộng ở Biển Đông.

Mặc dù vậy, những nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm mang đến sự bảo đảm và hiện diện về mặt quân sự hoặc để đưa ra sự đảm bảo cho Philippines đã vấp phải một sự phản kháng có thể dự đoán trước. Đó là lý do tại sao các quan chức Hoa Kỳ hiện tại đang phải điều chỉnh để tăng cường những nỗ lực thúc đẩy sự tiếp cận và hợp tác an ninh của chúng ta ở Đông Nam Á, với một sự hiểu biết sâu sắc về tương lai của khu vực dựa trên sự cân bằng giữa các lực lượng chính trị.

Trong năm 2010, các quốc gia Đông Nam Á quay sang Hoa Kỳ nhằm đối trọng với sự hung hăng của Trung cộng; nhưng đó hầu hết là những lời khẩn cầu trong bí mật và ít khi được công bố rộng rãi. Chúng ta cũng đang nhìn thấy chính sách phòng bị nước đôi về an ninh đang ngày càng được thúc đẩy giữa các nước ASEAN. Một phần, điều này liên quan đến việc tìm kiếm các mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Nhưng trong phạm vi rộng lớn hơn, ASEAN cũng đang tìm kiếm các mối quan hệ mạnh mẽ hơn trong nội bộ châu Á, kể cả với các đối tác quân sự xuyên Ấn Độ Dương – Châu Á- Thái Bình Dương, bao gồm Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc cũng như Anh và Pháp.

Mặt khác của chiến thuật chia để trị của Trung cộng trong mối quan hệ với ASEAN là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm triển khai lâu dài ngoại giao xây dựng niềm tin, không nhằm mục đích ký kết các hiệp định (đặc biệt là hiệp định mang tính ràng buộc) mà thay vào đó là ngăn cản chúng. Trung cộng đã “câu giờ” rất hiệu quả bằng cách tham gia vào các phiên đàm phán hay trao đổi ngoại giao. Chiến thuật này cũng giúp Bắc Kinh làm giảm đi những chi phí không đáng có, đồng thời khẳng định tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của mình thông qua nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, chiến thuật này không phải là có tác động lên tất cả các quốc gia ASEAN, một số nước còn tư vấn cho Hoa Kỳ làm theo những gì mà hầu hết các nhà ngoại giao khu vực đã làm – đó là sử dụng một chút mưu mẹo nhằm thể hiện khả năng giải quyết mâu thuẫn và hiểu được rằng không phải lúc nào hành động phơi bày toàn bộ sự thật trước công chúng cũng mang lại thuận lợi trên đấu trường cạnh tranh quốc tế.

Đa số các thành viên ASEAN, đặc biệt là các quốc gia ven biển, ít nhất là đang lặng lẽ ủng hộ Hoa Kỳ có một chỗ đứng vững chắc ở khu vực, đồng thời cố gắng xây dựng một mạng lưới các đối tác an ninh rộng lớn hơn. Mặt khác, hầu như tất cả các nước ASEAN đều muốn né tránh đối đầu với Trung cộng. Tuy nhiên, tất cả đều chia sẻ nỗi sợ hãi rằng các cường quốc ở bên ngoài chắc chắn sẽ tác động tiêu cực tới lợi ích của các nước Đông Nam Á. Sự ve vãn của Trung cộng đi kèm với các biện pháp cưỡng ép trong nhiều năm qua đã mang lại những tuyên bố tập thể và đoàn kết, bao gồm cả những phản ứng hồi tháng Tư trước những nỗ lực xây dựng “Vạn lý trường thành bằng cát” trên biển của Trung cộng. Nhưng sự đoàn kết của ASEAN cũng có thể nhắm vào Hoa Kỳ, nếu chúng ta cho phép Trung cộng khiến chúng ta phản ứng một cách thái quá hay thất bại trong trận chiến quan điểm nhằm tìm giải pháp tốt nhất giúp xác định và giải quyết các vấn đề.

Từng nước ASEAN sẽ mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ tuyên bố chủ quyền và quyền lợi của họ so với khi đứng chung trong một tập thể. Việt Nam đặc biệt có khả năng và kinh nghiệm trong việc bảo vệ đường bờ biển dài của mình. Philippines đã vùng dậy và tìm cách mở rộng khả năng của quốc gia, đặc biệt là kể từ khi bị đẩy sang một bên trong vụ bãi cạn Scarborough. Tòa án Tối cao Philippines cần sớm hợp pháp hoá sự hiện diện luân phiên của Hoa Kỳ tại Philippines dựa trên hiến pháp của nước này vốn cấm việc thành lập các căn cứ quân sự mang tính vĩnh viễn. Điều đó có thể tạo ra đủ khích lệ đối với Hoa Kỳ trong việc tăng cường chiếc ô liên minh đối với Philippines.

Nhưng có lẽ đáng ngạc nhiên và quan trọng nhất là sự thức tỉnh về hàng hải của Tổng thống mới của Indonesia Joko “Jokowi” Widodo. Trong khi ông ta phải tiếp tục chơi trò chơi cân bằng giống như tất cả các chủ thể khác trong khu vực – cân bằng giữa lợi ích kinh tế và ổn định với lợi ích an ninh, quá trình tạo ra các quy tắc, và đảm bảo thực thi luật pháp – Jokowi đã chuyển Indonesia từ một đất nước thuần ASEAN trở thành một trung cường trong khu vực và trực tiếp tương tác với các cường quốc bên ngoài. Việc đánh đắm 41 tàu, trong đó có một tàu của Trung cộng, với mục đích chứng minh rằng Indonesia sẽ thực thi luật hàng hải của mình, là một hành động mang tính tượng trưng nhưng rất quan trọng.

Tuy nhiên, việc tìm cách áp đặt chi phí lên các hành vi cưỡng ép của Trung cộng hay cố gắng ngăn Trung cộng giành được những thắng lợi từ sự bắt nạt đòi hỏi một ASEAN đoàn kết nhiều hơn nữa. Vì vậy, bất chấp những hạn chế của ASEAN, Hoa Kỳ nên tiếp tục hỗ trợ cho tổ chức này. Khi đạt được sự đồng thuận, ASEAN sẽ đóng vai trò như một lực lượng mạnh mẽ trong việc hợp pháp hóa các hoạt động quốc tế. Hơn nữa, sự hỗ trợ của ASEAN là rất cần thiết cho các tổ chức khu vực quy mô hơn, chẳng hạn như Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) thiết lập các chương trình nghị sự ngoại giao cấp cao giữa các nhà lãnh đạo, và hội nghị các Bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) đưa ra các bước đi thực tế bởi các Bộ quốc phòng. Tiếp sau đó, từ đối thoại Shangri-La ở Singapore cho tới Hội nghị thượng đỉnh Đông Á được tổ chức bởi Malaysia vào cuối năm nay, Hoa Kỳ cần phải giành được sự thấu hiểu và hỗ trợ cho các hoạt động như không thám và đảm bảo tự do hàng hải nhằm bảo vệ những lợi ích chung mang tính toàn cầu.

4. Mười Bước để Mỹ Ngăn Chận

Chiến Lược của Trung cộng

4. Pushing Back Against China’s Strategy:

Ten Steps for the United States

By Patrick Cronin

 

Lê Thanh Danh dịch Nguyễn Thế Phương hiệu đính

War on The Rocks, 18/5/2015.

USS Aircraft carrier. Photo credit: U.S. Navy

Trung cộng vừa có chiến lược mới nhằm gia tăng lợi thế quân sự của mình trong khu vực. Mặc dù lớn tiếng về việc cân bằng giữa bảo vệ chủ quyền với ổn định khu vực, đây là một chiến lược khôn khéo của Trung cộng nhằm từ từ tiến tới bá quyền. Bằng việc nhấn mạnh rằng Trung cộng không chỉ là cường quốc lục địa mà còn là cường quốc trên biển, chiến lược mới đề cập tới việc dịch chuyển từ phòng thủ gần bờ sang phòng thủ ngoài biển khơi: đặt trọng tâm hướng đến khả năng tác chiến biển xanh, nghĩa là Hải Quân Trung cộng có khả năng triển khai một cách tương xứng với Hải Quân Hoa Kỳ, ít nhất là trong những vùng biển gần và phần biển phía Tây Thái Bình Dương vốn mang vị trí yếu lược đối với Trung cộng. Qua đó, Trung cộng ngầm cảnh báo các nước lân cận rằng đừng tập hợp sức mạnh cũng như đối đầu với một Trung cộng đang trỗi dậy, sẵn sàng giành lấy sứ mệnh lịch sử của mình. Dù tỏ rõ lập trường cứng rắn và không khoan nhượng, chiến lược thực sự của Trung cộng không tập trung vào đối đầu trực tiếp hay gây ra xung đột, mà vẫn trong thế tìm kiếm một vị trí thuận lợi hơn cho mình.

Vậy Hoa Kỳ cần hành động ra sao trước chiến lược tiến dần đến bá quyền của Trung cộng ở Châu Á – Thái Bình Dương? Như đã nêu trong các phần 1, 2 và 3 của chuyên đề, Trung cộng đang tăng cường nỗ lực loại bỏ ảnh hưởng của Washington trong khu vực bằng cách vô hiệu hóa lực lượng quân sự Hoa Kỳ thông qua chiến lược chống tiếp cận/ chống xâm nhập (A2/ AD), đồng thời ngăn chặn nỗ lực hợp nhất các nước Đông Nam Á để chống lại Trung cộng. Giờ đây nếu Hoa Kỳ tiếp tục án binh bất động thì sẽ dẫn tới nhiều hệ quả tai hại. Việc không thiết lập được các mối quan hệ láng giềng tốt đẹp trong khu vực sẽ dẫn đến nhiều tiền lệ xấu trong nỗ lực chống lại cường quyền trong tương lai.

Chiến lược đối phó của Hoa Kỳ cần đặt các đồng minh và đối tác trong khu vực vào trọng tâm chính sách. Các lợi ích quốc gia trùng lắp với nhau tạo nên một nền tảng vững chắc để chống lại các hành động ép buộc. Khi Trung cộng phạm sai lầm và vi phạm vào nhiều qui tắc ứng xử, Hoa Kỳ cần có biện pháp khiến Trung cộng trả giá thích hợp. Trong đó, biện pháp áp đặt chi phí ít gây thương tổn nhất là tiếp cận gián tiếp thông qua các phương diện ngoại giao, luật pháp và truyền thông. Những nỗ lực nhằm định hình tình thế của xung đột thường là các nỗ lực bền bỉ và lâu dài. Do đó, thông thường biện pháp tốt nhất nhằm kìm hãm các hành vi gây hấn là thông qua con đường ít bị cự tuyệt nhất. Câu hỏi là Washington cần phải làm gì?

1. Trang bị cho khu vực nhận thức về thực trạng hiện tại. Bước đầu tiên là tăng cường khả năng thu thập và công bố các thông tin về hoạt động của Trung cộng trong khu vực. Quốc hội Mỹ hàng năm luôn yêu cầu báo cáo về quân đội Trung cộng (PLA). Trong bối cảnh căng thẳng trên biển ở châu Á, Quốc hội cần mở rộng yêu cầu thu thập các thông tin này. Cụ thể, Quốc hội cần yêu cầu bộ phận phụ trách cung cấp thường xuyên, chính xác và công khai các chi tiết về các hoạt động quân sự, ngoại giao, các hoạt động pháp lý, thu thập thông tin cũng như các hoạt động có liên quan khác của Trung cộng ở Biển Đông. Theo đó công việc của chính phủ là công khai các hoạt động này tại các diễn đàn ngoại giao khu vực như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+ (ADMM+). Quốc hội phải chỉ đạo Bộ Quốc phòng, phối hợp cùng Bộ Ngoại giao để xây dựng một trang web chính thức. Đóng vai trò là một nguồn thông tin tổng hợp theo thời gian thực, trang mạng này có thể được bổ sung các phân tích định kỳ, bao gồm các báo cáo hằng năm về các hoạt động trong vùng biển châu Á. Các hoạt động này không đòi hỏi phải xây dựng cơ chế mới hay cần nguồn lực dồi dào, mà có thể được tích hợp vào một cơ quan chuyên môn đã có sẵn như Viện Nghiên cứu Biển đảo Trung cộng tại Đại học Hải chiến Hoa Kỳ hoặc Trung tâm Phân tích Hải quân. Mục tiêu chính là thu thập mọi nguồn thông tin có được nhằm đảm bảo các phân tích đáng tin cậy và có thẩm quyền cao hơn so với các cơ quan phi chính phủ khác.

2. Thành lập một trung tâm chung chia sẻ thông tin an ninh trên biển trong khu vực. Nhằm thúc đẩy các nỗ lực phòng tránh thiên tai, an toàn hàng hải, cũng như hợp tác rộng rãi trong khu vực, chính phủ Hoa Kỳ cần nhanh chóng thành lập một trung tâm phản ứng tổng hợp trong khu vực. Có nhiều cơ hội để cải thiện các nỗ lực ban đầu hiện có. Ví dụ, 20 quốc gia đã gia nhập vào Hội nghị Hợp tác Khu vực Chống Cướp biển và Cướp có vũ trang trên biển tại Châu Á năm 2004 (ReCAAP). Hội nghị đã thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin nhằm trao đổi các thông tin về cướp biển và tội phạm. Không chỉ vậy, năm 2009, Singapore thành lập một Trung tâm Phản ứng tổng hợp Thông tin với vai trò một cơ chế chia sẻ thông tin về an ninh hàng hải trong khu vực. Được đặt tại Căn cứ Hải Quân Changi tại Singapore, trung tâm này giúp mở rộng nhận thức về lĩnh vực hàng hải nhằm đối phó với nạn cướp biển, các vấn đề biên giới, an toàn và giảm nhẹ thiên tai. Cho dù trung tâm nào được ứng dụng làm đầu não chia sẻ thông tin của khu vực, Hoa Kỳ cũng cần tìm ra một biện pháp công khai thông tin mà không gặp phải ngăn cản từ quá trình đồng thuận của ASEAN. Tuy nhiên, bên cạnh việc điều khiển và đưa ra các mệnh lệnh một cách chính xác, trung tâm này cần phổ biến thông tin cho mọi chủ thể quốc tế có liên quan đến vùng biển quốc tế, đặc biệt là 18 nước thành viên của ADMM+ và các tiến trình của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

3. Tận dụng hình ảnh. Một bức ảnh đáng giá hơn ngàn lời nói. Những hình ảnh với số lượng và chất lượng chưa từng có như ngày nay, thông qua các phương tiện điện tử, nên được tận dụng như một hình thức hàng hóa công ở khu vực. Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã đàm phán với các thành viên ASEAN về việc xây dựng một kênh hình ảnh hoạt động chung để giải quyết các thách thức toàn cầu như hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thiên tai và tìm kiến cứu nạn. Để hỗ trợ việc chia sẻ thông tin, cần phải đẩy mạnh hoạt động mua bán hình ảnh vệ tinh, nhanh chóng cho phép giải mật một cách có chọn lọc các hình ảnh vệ tinh ghi nhận lại các công trình quan trọng và hoạt động quân sự ở Biển Đông. Những hình ảnh này có thể công khai trên trung tâm chia sẻ thông tin an ninh hàng hải ở trên. Nó cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ phân tích, đảm bảo mọi người có nhiều thông tin hơn về tình hình sôi động tại Biển Đông.

4. Xây dựng một liên minh tuân thủ luật pháp. Đây là thời điểm xây dựng một liên minh các quốc gia biển sẵn sàng tình nguyện hỗ trợ thúc đẩy một bộ quy tác ứng xử mà chúng ta mong Trung cộng một ngày sẽ chấp nhận. Điều này sẽ giúp các nước ASEAN đẩy mạnh Bộ Quy tắc Ứng xử. Thực tế, việc vận động các quốc gia có biển như Úc, Nhật và Hoa Kỳ tham gia là để giúp quốc gia giáp Biển Đông như Philippines và Việt Nam tạo được áp lực lên các thành viên ASEAN khác, buộc họ đồng ý với các điều khoản của bộ quy tắc ứng xử mà không cần chờ đợi Trung cộng. Như vậy, một liên minh mang tinh tự nguyện có khả năng áp đặt một chi phí nhất định nào đó lên Trung cộng vốn luôn áp dụng chiến thuật câu giờ, đồng thời khuyến khích Bắc Kinh đổi thái độ và chấp nhận bộ luật chung. Mặc dù không có một cơ quan đảm bảo thực thi, liên minh này vẫn có thể tiến hành các hoạt động như tiến hành tuần tra định kỳ để duy trì tự do trên biển và khu vực “mở” đảm bảo lợi ích chung toàn cầu. Đây không phải là và không nên là một liên minh đúng nghĩa. Điều này có thể tạo ra sự phân cực ở Châu Á mà chúng ta luôn cố tránh. Nếu không có các áp lực từ bên ngoài, Trung cộng sẽ chẳng có động lực nào để chấp nhận bộ quy tắc ứng xử này. Một số các quy tắc hành xử chung mang tính tự nguyện có thể đóng vai trò thúc đẩy quan trọng trong trường hợp này.

5. Mở rộng chuyên môn về luật quốc tế. Chúng ta cũng phải tăng cường năng lực của Hoa Kỳ để thấu hiểu, phân tích, diễn giải, phổ biến và thảo luận luật pháp và ngoại giao quốc tế liên quan đến an ninh hàng hải, đặc biệt là ở Biển Đông. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã ban hành một giải thích pháp lý rất hiếm có nhưng vô cùng hữu ích về các yêu sách của Trung cộng tại Biển Đông. Vì Trung cộng chỉ muốn nêu ra các sự kiện một cách có chọn lọc, nên việc Hoa Kỳ đưa ra các phối cảnh khách quan dưới góc độ luật pháp quốc tế mang ý nghĩa quan trọng (có lẽ chủ ý đến tính khách quan, trong một động thái ngoại giao khôn khéo Hoa Kỳ chỉ bình luận về các yêu sách của Trung cộng sau khi công bố các tài liệu tương tự về Philippines). Không chỉ Bộ Ngoại giao nên tiếp tục phát hành các tài liệu chính thức về luật hàng hải quốc tế, mà Quốc hội cũng nên bổ sung thêm các chuyên gia về luật pháp quốc tế tới các phòng ban quan trọng của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Điều này sẽ rất quan trọng trong bối cảnh chúng ta đang tìm cách hỗ trợ Philippines giải quyết các tranh chấp dưới góc độ luật pháp chứ không phải sự ép buộc. Sau khi để mất Bãi cạn Scarborough năm 2012, Philippines đã nộp đơn kiện chống lại Trung cộng tại Tòa án Quốc tế về Luật biển. Tiến trình có phần chậm chạp đó cuối cùng cũng dần đi đến hồi kết, và một phán quyết về vấn đề đường 9 đoạn của Trung cộng dự kiến được đưa ra vào đầu năm 2016. Tuy nhiên, phán quyết sắp tới của tòa án trọng tài chỉ có ý nghĩa quan trọng một khi chúng ta đưa ra quan điểm rằng luật pháp quốc tế cần được tôn trọng và là cách thức để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, thay vì hành động quân sự hóa sắp tới của Trung cộng. Dựa vào mối tương quan này, Hoa Kỳ sẽ có cơ hội hợp tác nhiều hơn với Nhật Bản, đất nước có nhiều kinh nghiệm liên quan tới các vụ kiện dựa trên luật biển quốc tế hơn là các quốc gia khác trong khu vực.

6. Thông qua UNCLOS. Đã đến lúc Hoa Kỳ cần thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS). Đã có hơn 160 quốc gia tham gia vào Công ước này, tạo nên các luật lệ chung để quản lý các vùng biển trên thế giới. Mặc dù Thượng viện Hoa Kỳ đã không thể thông qua hiệp định, các chính quyền kế nhiệm vẫn tuân thủ UNCLOS một cách không chính thức. Mỉa mai thay, Trung cộng là một nước đã phê duyệt UNCLOS nhưng lại từ chối tuân thủ công ước. Việc Quốc hội không phê duyệt UNCLOS chỉ làm suy yếu các nỗ lực ngoại giao nhằm huy động hỗ trợ tiếp cận dựa trên nền tảng pháp lý. Đồng thời, nó còn tạo điều kiện cho các chiến dịch truyền thông sai lệch nhằm làm suy yếu uy tín của Hoa Kỳ trong vấn đề Biển Đông. Chúng ta chắc chắn sẽ phải tìm cách thích nghi với các chuyển dịch quyền lực toàn cầu. Chính vì thế, chúng ta càng cần phải cố gắng định hình một bộ các điều luật chung bao trùm lên phạm vi của các biến động đó.

7. Tăng cường tập trận và thể hiện sức mạnh. Các cuộc tập trận đúng lúc và đúng chỗ, không giống như cuộc diễn tập đổ bộ gần đây giữa Hoa Kỳ và Philippines gẫn bãi cạn Scarborough, nên được tổ chức theo chu kỳ nhằm truyền tải đầy đủ cả mối quan ngại lẫn năng lực. Tương tự, Hoa Kỳ cần cân nhắc kỹ lưỡng khi nào là thời điểm thích hợp để thực hiện các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải. Chuyến bay trinh sát gần đây của Hoa Kỳ qua vùng trời một số đảo nhân tạo của Trung cộng trên Biển Đông, dù vấp phải các cảnh cáo liên tiếp từ phía Hải quân Trung cộng, là minh chứng cho cách thức một hoạt động quân sự mang tính chất hòa bình có thể được sử dụng để nhấn mạnh luật pháp quốc tế. Các hoạt động tương tự với tàu hải quân hoặc cánh sát biển cũng có thể nhấn mạnh thực tế rằng những thực thể chìm, kể cả khi được xây đắp thành đảo nhân tạo, không tạo nên chủ quyền trên cả vùng biển lẫn vùng trời xung quanh và bên trên chúng. Phương thức hoạt động này có tác dụng như một cú đấm thẳng vào thái độ hung hăng xâm lấn. Tuy nhiên, nó phải được đặt trong một khuôn khổ ngoại giao hết sức cẩn trọng, mà trong đó Hoa Kỳ cần nhấn mạnh rõ cả hai phương diện can dự lẫn kiềm chế trong chính sách của mình.

8. Củng cố năng lực đối tác. Hoa Kỳ còn rất nhiều cách thức để ngăn cản chiến thuật “lát cắt salami” và dọa nạt của Trung cộng phát huy tác dụng. Cách thức chủ đạo và dễ dàng nhất là củng cố năng lực, liên quan tới cả lực lượng chấp pháp biển lẫn quốc phòng, giữa các quốc gia có biển trong khu vực. Ủy ban Quân vụ Thượng viện đã khôn ngoan khi bổ sung nguồn lực cho chiến lược tái cân bằng tới châu Á của Nhà Trắng bằng cách tăng mức ngân sách cho việc củng cố năng lực cho các đối tác. Quốc hội Hoa Kỳ cũng cần phải yêu cầu Lầu Năm Góc xây dựng một kế hoạch dài hạn nhằm củng cố năng lực cho các quốc gia ven biển tại Đông Nam Á. Bước đi này cần bao gồm cả các kế hoạch song phương lẫn đa phương, và các cách thức nhằm tận dụng cho được mạng lưới quan hệ xuyên Á đang phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nổi bật trong các kế hoạch quan hệ song phương, Hoa Kỳ cần phải hoạch định rõ ràng cách thức triển khai Hiệp định Hợp tác Quốc phòng Mở rộng (Enhanced Cooperation Defense Agreement) với Philippines. Chúng ta cần cân nhắc không những tới việc luân chuyển quân đội, mà còn phải hỗ trợ Philippines củng cố năng lực về mặt con người, đặc biệt khi quốc gia này đang tìm cách phát triển các khái niệm mang tính chiến lược trong tương lai. Hoa Kỳ từng thực hiện một chương trình tương tự với Nhật Bản vào đầu những năm 1990, và ngày nay Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã sở hữu một chiều sâu chiến lược rất lớn. Chúng ta cũng cần phải giải thích chi tiết các kế hoạch tương tự đối với Việt Nam, cụ thể như việc xây dựng một nền tảng đối thoại chiến lược vững chắc giữa hai nước. Indonesia là một cơ hội đang nổi lên khác. Nhận thức đang ngày càng gia tăng về đại dương của tân Tổng thống Joko “Jokowi” Widodo phải được nhanh chóng nắm bắt như một cơ hội để mở rộng hợp tác trên biển. Các nỗ lực hợp tác cần phải nhắm vào những vấn đề rất thiết yếu đối với Indonesia như kết nối các đảo, xây dựng cơ sở hạ tầng biển, và bảo vệ các tuyến đường thông tin liên lạc trên biển. Trong tất cả các trường hợp này, tương tự như các mối quan hệ với Malaysia, Myanamar, Brunei và Thái Lan, chúng ta cần hợp tác theo các cách tiếp cận mang tính bền vững.

9. Đào sâu tiếp cận trên mọi mặt. Trụ cột cuối cùng trong chính sách phản ứng cần tập trung vào cách thức tiếp cận, và rộng hơn là đẩy mạnh thực hiện chính sách tái cân bằng toàn diện sang châu Á. Bước đi này cần bắt đầu với các tiếp cận về kinh tế và ngoại giao, được bảo vệ một cách lặng lẽ nhưng bền vững. Về mặt kinh tế, Hoa Kỳ cần hoàn thành Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Quyền Xúc tiến Thương mại (Trade Promotion Authority – TPA) hay còn gọi là Quyền đàm phán nhanh. Hai hiệp định này rất cần thiết đối với an ninh và thịnh vượng trong tương lai của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phát triển cách tiếp cận theo chiều sâu về kinh tế cũng đồng nghĩa rằng chính phủ phải tìm kiếm một sáng kiến phát triển dài hạn, cho phép Hoa Kỳ tiếp cận với phát triển một cách hiệu quả và tích cực hơn, thay vì bị xem như một vật cản trong quá trình phát triển kinh tế của các nước trong khu vực. Bất kỳ một nhà phân tích khách quan nào, khi so sánh giữa các sáng kiến phát triển của Hoa Kỳ (như Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong, xây dựng các nhà máy năng lượng ở Pakistan) với những hứa hẹn khổng lồ từ Trung cộng và Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB), dẫn đến kết luận rằng Trung cộng là cường quốc đang trỗi dậy, còn Hoa Kỳ là cường quốc đang suy yếu. Sự hạn hẹp về trí tưởng tượng, sự chia rẽ chính trị lưỡng đảng, và sự thiếu quyết đoán cần phải nhường bước cho một phương pháp thực thi chính sách sáng tạo, nghiêm túc và dài hạn để chứng minh lý do vì sao Hoa Kỳ, các đồng minh lẫn đối tác có thể đóng góp nhiều hơn vào việc giải quyết các khó khăn, phát triển con người, và hội nhập khu vực. Thay vì tập trung chống lại Trung cộng, phương pháp này cần nhấn mạnh tới những gì Hoa Kỳ sẽ mang đến cho khu vực. Ngay cả những công cụ quyền mực mềm cũng đòi hỏi phải có cách “tấn công” hiệu quả.

Trong khi đó, cách thức tương tác của chúng ta đối với Trung cộng, bao gồm cả các cách tiếp cận quân sự song phương, cần được thể chế hóa và tiếp tục duy trì, dù vẫn phải đối mặt với những va chạm và chia rẽ trong những năm sắp tới. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa rằng chúng ta tương tác với họ trên tất cả các lĩnh vực. Quốc hội đã đúng khi mong muốn kiểm soát mối quan hệ quốc phòng song phương để đảm bảo sự cân bằng. Tiếp cận với Trung cộng, bao gồm cả việc thúc đẩy các biện pháp xây dựng niềm tin hiệu quả, nên là một phần thiết yếu trong chiến lược toàn diện này. Trong khi một số người mong muốn nhanh chóng loại bỏ Trung cộng khỏi các hoạt động giao lưu quân sự giữa hai bên, tôi lại ủng hộ việc tập trung vào chất lượng của các cách tiếp cận quân sự song phương mà chúng ta đang thực hiện. Chẳng hạn, cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương hai năm một lần (RIMPAC) là một cách thức phù hợp để Hoa Kỳ khẳng định sự hiện diện và sức mạnh quân sự của mình giúp mang đến sự ổn định cho toàn khu vực và tạo ra khả năng đối phó hiệu quả với những thách thức chung, từ viện trợ nhân đạo đến hỗ trợ thiên tai, tìm kiếm cứu hộ và chống lại nạn buôn người. Các cách thức xây dựng lòng tin cần phải thiết thực và có ý nghĩa, nhưng cũng đồng thời không tạo ra một cái cớ giúp Trung cộng tiến hành các hành động hung hăng hơn trong con mắt của Washington và khu vực. Không những thế, các bước tiến trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước cần dựa trên nền tảng là cam kết tuân thủ các biện pháp an toàn và giảm thiểu rủi ro của quân đội Trung cộng được tuyên bố trong chuyến thăm tháng 11 vừa qua của Tổng thống Obama.

10. Duy trì sự hiện diện mạnh mẽ. Có một câu nói mà bố vợ của tôi, cựu Phó Đô đốc Ronald J. Kurth từng thuộc nằm lòng khi ông còn giữ chức Giám đốc Học viện Hải chiến, đó là: “Chùa thì cứ cầu, nhưng thuyền thì cứ chèo” (Pray to God, But Row to Shore). Tương tự như thế, Hoa Kỳ nên tìm kiếm khả năng tiếp cận và xây dựng dựng năng lực, nhưng cũng đồng thời phải duy trì một sự hiện diện hàng hải đáng kể. Lãnh đạo mới của Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương (PACCOM), Đô đốc Harry Harris, đã đề cập tới tính chất chuyên nghiệp này của lực lượng quân đội quốc gia. Ông đã trình bày hết sức cô đọng khái niệm sức mạnh thông minh. Tuy nhiên, ông vẫn cần có các nguồn lực hỗ trợ và một số lượng hệ thống khí tài nhất định để đảm bảo Hoa Kỳ có thể hợp tác dựa trên thế mạnh. Chiến lược tái cân bằng quân sự và an ninh đòi hỏi phải duy trì sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ, qua đó đảm bảo đủ số lượng và chất lượng quân đội để triển khai, sẵn sàng đảm nhiệm các nhiệm vụ ở một phạm vi rộng chứ không chỉ bó hẹp trong trường hợp chiến tranh. Sự hiện diện tại Singapore hiện nay là cực kỳ hữu ích và cần được duy trì. Sự hiện diện tại Australia mang ý nghĩa sống còn và cần được mở rộng trong tương lai. Sự hiện diện tại Philippines cũng cần được tăng cường, một khi Tòa án Tối cao Philippines đã phê duyệt về mặt luật pháp cho việc luân chuyển quân đội Hoa Kỳ tại đây. Tuy nhiên, Hoa Kỳ còn có thể khẳng định vị thế cường quốc truyền thống của mình trên Thái Bình Dương thông qua một khía cạnh đáng kể khác. Chúng ta có thể củng cố sự hiện diện và phạm vi tập trận của Thuỷ quân Lục chiến đóng quân tại các vùng lãnh thổ của Hoa Kỳ là đảo Guam và quần đảo Mariana. Về lâu dài, chúng ta cần phát huy lối suy nghĩ được khởi xướng bởi Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Work, ủng hộ đầu tư vào một chiến lược “bù đắp” lần thứ ba (công nghệ rô-bốt và tự hành – ND) để đối phó với năng lực “chống tiếp cận/ chống xâm nhập” (A2/ AD) ở trong khu vực.

Mười bước này đều được chia thành các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ cần đến nhiều nguồn lực và các bước đi cụ thể hóa hơn nữa. Các tuyên bố vô nghĩa, thiếu tính thiết thực sẽ nhanh chóng bị lật tẩy. Hoa Kỳ phải can dự nhiều hơn và được chuẩn bị tốt hơn để xây dựng sự hợp tác xuyên suốt trên toàn bộ khu vực Ấn Độ – châu Á – Thái Bình Dương. Trung cộng có tham vọng rõ rệt là xác lập các luật lệ riêng của mình trên những vùng mà họ tự tuyên bố chủ quyền. Chúng ta cần phải tự đặt mình vào vị trí người thách thức những thứ luật lệ đó, nhằm duy trì một trật tự ổn định trên đại dương.

 

5. ĐÁP TRẢ TRUNG CỘNG:

HỢP TÁC DỰA TRÊN SỨC MẠNH

5. Respond to the China Challenge

by Cooperating through Strength

 

Nguyễn Trần Bảo Yến dịch Nguyễn Thế Phương hiệu đính

May 28, 2015

 

Photo credit: Chairman of the Joint Chiefs of Staff

Một thách thức mang tính cấp bách cho các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ là tìm ra phương pháp hiệu quả để đáp trả lại hành động gia tăng sức ép của Trung cộng vốn không quan tâm đến các quy tắc hay các nước láng giềng. Điều cần thiết lúc này là một đánh giá rõ ràng về điều gì tạo ra các hành vi không thể chấp nhận được và việc phát triển một tập hợp các lựa chọn chính sách linh hoạt giúp áp đặt chi phí lên các hành động mang tính cưỡng ép và gây mất ổn định.

Trong khi chúng ta cần hiện diện quân sự tại khu vực châu Á- Thái Bình Dương, những thách thức từ “vùng xám” của Trung cộng đòi hỏi nhiều hơn là những phương án có sẵn từ Bộ Quốc phòng. Thật vậy, một đánh giá chính sách liên cơ quan của chính phủ nên hài hoà với các hệ quả mang tính chiến lược của Hoa Kỳ: duy trì và thích ứng với một hệ thống hướng nội và dựa trên luật lệ ở khu vực Ấn Độ – Châu Á – Thái Bình Dương.

Mục đích của chúng ta là không nên quân sự hóa quá mức vấn đề mà là tìm cách giành lấy hòa bình thông qua một chiến lược dài hạn và có sự phối hợp giữa áp đặt chi phí, xây dựng năng lực và tăng cường tiếp xúc. Điều này một phần có nghĩa là chống lại khuynh hướng phải cố gắng nhanh chóng đi tìm hướng giải quyết, thay vào đó là tìm cách giải quyết các tranh chấp thông qua một chính sách cân bằng thận trọng giữa mục tiêu và phương tiện, không chỉ đối với Hoa Kỳ mà còn trong bối cảnh của khu vực Đông Nam Á.

Sống chung với căng thẳng, và thậm chí là mâu thuẫn giữa tầm nhìn của chúng ta và thực tế hiện nay, là điều tốt nhất trong tương lai gần mà chúng ta có thể làm. Chúng ta không thể loại bỏ, đồng thời cũng không thể tiến xa hơn chiến lược khu vực của chính mình mà trong đó, tiếp xúc và ngăn chặn là hai mặt đối lập. Nhưng chúng ta có thể cải thiện điều này, bắt đầu bằng cách tăng cường thi hành chính sách tái cân bằng toàn diện ở Châu Á. Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter dường như rất nghiêm túc về mục tiêu này, và ông nhận được sự ủng hộ từ một số chuyên gia xuất sắc như Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương mới được bổ nhiệm, Đô đốc Harry B. Harris, Jr. Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, và các bộ ngành phòng ban khác cần phải được ủy thác một trách nhiệm tương tự nhau. Thách thức là làm thế nào hiện thực hoá một chiến lược toàn diện, với mục tiêu giành quyền kiểm soát lớn hơn ở khu vực thông qua tất cả các phương tiện sẵn có. Ít nhất là khi nói đến các chính sách tái cân bằng tại châu Á, chính quyền nên hiểu rằng ở cả hai phe trong Quốc hội đều có sự hiện diện của những nhân vật có tiếng nói quyết định.

Một số người cho rằng việc áp đặt chi phí lên các hành vi sai trái gây rủi ro xung đột hoặc ít nhất ủng hộ cho quan điểm của Trung cộng rằng nước Mỹ đang cố gắng ngăn chặn họ. Tuy nhiên, không có gì có thể đi ngược lại được sự thật.

Chống lại hành vi sai trái không giống như tiến hành ngăn chặn. Cũng không giống như sử dụng một tập hợp của các công cụ quyền lực cứng và mềm để chống lại các hành động liều lĩnh, ví dụ như việc TQ như xây dựng đảo nhân tạo có khả năng khiến cho căng thẳng tại Biển Đông ảnh hưởng tới quan hệ Mỹ – Hoa.

Chỉ có Trung cộng có thể kiềm chế Trung cộng và chỉ có Trung cộng mới có thể làm chệch hướng mối quan hệ Mỹ – Hoa bằng cách đánh giá thấp quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc đảm bảo sự ổn định và thịnh vượng không bị suy yếu bởi những thay đổi mang tính đơn phương tác động tới nguyên trạng thông qua ép buộc hay cưỡng đoạt. Một số đồng nghiệp có uy tín cao đã kêu gọi dừng các hoạt động giúp duy trì và nhấn mạnh sự trỗi dậy liên tục của Trung cộng. Tôi điều chỉnh một chút các yêu cầu đó trong phạm vi khả năng của quốc gia: cụ thể là, bảo toàn lợi ích của Hoa Kỳ bằng cách tìm kiếm sự hợp tác thông qua sức mạnh, thúc đẩy một tầm nhìn tích cực có sức hấp dẫn và có thể thu hút hầu hết các quốc gia trong khu vực, và ngược lại, nghe có vẻ mâu thuẫn, sẵn sàng áp đặt chi phí lên các hành vi nằm ngoài những nguyên tắc, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn quốc tế đã được thỏa thuận.

Sống chung với mâu thuẫn đòi hỏi một sự thay đổi liên tục để giữ cân bằng và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Điều đó có nghĩa là tiếp tục tìm cách thúc đẩy tiếp xúc tích cực với Trung cộng ngay cả khi điều này có vẻ như không tạo ra sự khác biệt nào lớn. Đầu tiên, tiếp xúc có thể giúp tìm ra những cách thức thực tế để tránh những hệ quả không mong muốn, chẳng hạn như leo thang căng thẳng. Thứ hai, tiếp xúc giúp gửi đi thông điệp đúng đắn đến các quốc gia còn lại trong khu vực về tầm nhìn hướng tới tương lai, giúp giải quyết vấn đề và dựa vào các quy tắc và luật lệ.

Một số người sẽ không thoải mái với những điều trên, nhưng tôi cho rằng các lựa chọn thay thế khác hoặc là quá hiếu chiến hoặc là quá dễ dãi. Quá trình tương tác có phần đối nghịch nhau giữa tiếp xúc và ngăn chặn không phải lúc nào cũng dẫn đến một phương thức ít gây xung đột nhất giúp theo đuổi các mục tiêu của chúng ta. Tuy nhiên, đó vẫn là phương tiện thực tế nhất để bảo vệ trật tự khu vực và lợi ích của chúng ta, và xa hơn là hướng tới các thỏa hiệp một chiều khi trật tự mà Hoa Kỳ đang cố gắng giữ gìn đang bị mục rỗng từ bên trong.

Nhưng việc áp đặt chi phí và những hành động mạnh mẽ hơn phải được đặt trong một khuôn khổ ngoại giao lớn hơn của một chính sách toàn diện, trong đó mỗi động thái được thiết kế để hỗ trợ cho một mục tiêu chính trị lớn hơn. Mục tiêu đó liên quan đến lợi ích lâu dài của Hoa Kỳ vốn đang dần được hoà hợp vào khu vực năng động nhất trên thế giới. Khu vực Ấn Độ – Châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành địa điểm tập trung sức mạnh kinh tế và quân sự của thế giới trong thế kỷ này. Hoa Kỳ có thể đi theo xu hướng này hoặc không làm gì cả. Hoa Kỳ có thể dựa trên vai trò lịch sử hậu Thế chiến thứ hai của mình trong việc xây dựng một hệ thống mà ở đó hầu hết các quốc gia, bao gồm cả Trung cộng, đã phát triển mạnh mẽ. Hoặc ngược lại, Hoa Kỳ có thể chấp nhận sự suy giảm dần dần vị trí và ảnh hưởng và điều chỉnh bản thân cho phù hợp với điều đó, đồng thời chập nhận làm suy yếu khả năng của chúng ta trong việc phản ứng lại với các sự kiện bên ngoài.

Lý do chính Hoa Kỳ có thể hợp tác dựa trên sức mạnh là vì theo đuổi một hệ thống mở dựa trên luật lệ không thực sự đe dọa tới Trung cộng. Ngược lại, hợp tác dựa trên sức mạnh vẫn là một trong những triển vọng tốt nhất cho quá trình trỗi dậy của Trung cộng. Hoa Kỳ và Trung cộng, cũng như các quốc gia khác, có những lợi ích song trùng và khác biệt nhau. Chúng ta không bao giờ ngừng cố gắng tối đa hóa các lợi ích song trùng giữa hai quốc gia. Nhưng một khi khác biệt xuất hiện, cả hai nước không nên giả vờ rằng chúng không tồn tại. Trung cộng sẽ không ngừng nhấn mạnh một trật tự khu vực thuận lợi và thậm chí có phần cung kính đối với Bắc Kinh. Khi làm như vậy, Trung cộng sẽ không ngần ngại sử dụng những sự thật nửa vời, tuyên bố giả mạo, hay đưa ra những lời lẽ ngụy biện. Tương tự như vậy, Hoa Kỳ không nên mềm mỏng đối với lợi ích và giá trị của chính mình. Washington phải luôn ghi nhớ rằng bảo vệ cả lợi ích và giá trị đòi hỏi phải đầu tư vào các phương tiện giúp hỗ trợ và duy trì chúng. Một lần nữa, mục tiêu quan trọng nhất là để “giành chiến thắng trong hòa bình”, chứ không phải là tạo ra chiến tranh. Nhưng bảo vệ thịnh vượng và ổn định không có nghĩa là luôn luôn phải ngăn chặn đối đầu.

Kiềm chế Trung cộng là điều không tưởng. Hãy giả vờ rằng chúng ta chỉ có thể làm xói mòn vị thế của chính mình trong khu vực. Ngược lại, nỗi sợ hãi phải đối đầu với các hành vi không đúng đắn của Trung cộng chỉ vì sợ làm ảnh hưởng đến mối quan hệ quan trọng với nước này sẽ là một thất bại trong việc hiểu rõ những gì cần thiết để gầy dựng một trật tự khu vực tương lai. Điều này cũng khẳng định một quan điểm kỳ lạ cho rằng Trung cộng sẽ tưởng thưởng cho những ai tỏ ra là mình yếu thế. Bằng chứng cho niềm tin này nằm ở đâu?

Lý do tôi tin vào một chiến lược hợp tác dựa trên sức mạnh, bao gồm cả các biện pháp áp đặt chi phí, sẽ vận hành tốt bởi vì chiến lược đó – hay ít nhất là khi nó được bao hàm trong một khuôn khổ chính sách đối ngoại rộng lớn hơn – dựa trên những lợi ích chung mạnh mẽ. Không nói đến hệ thống tuyên truyền và sự thiếu lòng tin từ phía Trung cộng, Hoa Kỳ thực sự mong muốn thiết lập một hệ thống bao hàm trong đó các quy tắc công bằng đóng vai trò quan trọng. Các nguyên tắc như kêu gọi giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và không sử dụng vũ lực hay cưỡng ép để thay đổi hiện trạng mang lại lợi ích cho tất cả các bên, bao gồm cả Trung cộng. Đó là nguyên tắc mà tất cả chúng ta đều phải chấp nhận.

Patrick M. Cronin

 

Tiến Sĩ Patrick M. Cronin là Giám đốc cấp cao tại Chương trình An ninh Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Trung tâm An ninh Hoa Kỳ mới và là cựu Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc gia trực thuộc Đại học Quốc phòng Quốc gia Hoa Kỳ.

<< Trở về bài: Cuộc Tấn Công của Đồng Đô La Mỹ<<

*  *  *

Editor’s Note: This is the five installments in Patrick Cronin’s series on China’s strategy for dominance in the Asia-Pacific.

 

1. Chinese Regional Hegemony in Slow Motion

 

By Patrick Cronin

 

War On The Rock May 18, 2015

 

Chinese People's Liberation Army Navy Houbei type 022 Class fast attack craft ship

We are in the midst of an intensifying competition in Asia. The main driver of this competition is an ever-more powerful China determined to set the rules of engagement around its vast periphery; the South China Sea is the locus of rivalry. In seeking to expand its influence in Southeast Asia, China may well believe it is simply reclaiming its historic position as the dominant regional power. It may also think that its actions are defensive, designed to protect its security, access to resources, and vital sea lines of communication. But it realizes that the post-World War II order largely built by the United States still obstructs this objective. Thus, China hopes to displace the United States while gradually dominating its neighbors in a manner unlikely to trigger any decisive or timely response. Unfortunately, the United States has not enacted a policy that will forestall this eventuality. In Washington, too often the urgent crowds out the important. If we wait for the important changes presently underway in Southeast Asia to develop on their current trajectory, the United States and its allies and partners will soon not only lose substantial leverage over the rules and norms of behavior in this region, but also may well face larger security risks in the future.

While China wishes to assert greater control over its periphery, it is not an enemy of the United States. It seeks not to invite war, but rather to set the conditions of and exert influence over a contested peace. Its first objectives are rooted in economic and political stability: the preservation of economic growth and of the ruling Chinese Communist Party (CCP). Both of those pillars of CCP rule are increasingly under stress, the former as the rate of economic growth declines and the latter as a rising middle class and restive rural peasants seek to alter the social compact with Beijing. In President Xi Jinping’s tenure, Chinese power and confidence have risen to the point that China’s desire for a larger de facto sphere of influence is undermining the preexisting regional order. Propelled by the forces of nationalism and security, China has accelerated an effort that effectively displaces, blocks, and denies U.S. power. China seeks to neutralize America’s still considerable conventional military capability through anti-access/area denial capabilities, while it preempts attempts to coalesce Southeast Asia against Chinese power.

So while China is not an enemy, it is very clearly a fierce competitor — and one that is out-maneuvering the United States. Tapping into global trends, China may be able to make common cause with Russia and others to foster the natural forces of multi-polarity, that in turn promise to give China greater latitude over how to deal with its neighbors. Leveraging its growing position as the number one economic partner with virtually all countries in Southeast Asia, China   portrays America’s military power as a potential liability and source of confrontation. Relying on a full complement of policy tools, China is able to promote initiatives — often no more than slogans thrown out at rapid speed to find out what, if anything, sticks — to advance its ascending power at the expense of others. There is a battle of narratives aimed at the Asia-Pacific region. In the past year or two, China has managed to burnish its image as a great power not just interested in mercantilism but in regional development. Meanwhile, China has managed to portray the United States as a nation seeking exclusive arrangements, from alliances, to an exclusive 12-nation trade pact (the Trans-Pacific Partnership), to Washington’s initial opposition to a China-led Asian Infrastructure and Investment Bank.

Chinese strategy is not so much to win without fighting (à la Sun Tzu), but to put itself into the more favorable position to control its destiny and shape its environment via information, legal, and psychological campaigns (the so-called “three warfares”) combined with an indirect approach when it comes to military defenses. China’s military modernization efforts are sufficiently public and robust as to alter the perceptions of its smaller neighbors, especially when they harbor doubts about the future strength and political will of the United States to come to their defense or maintain a regional balance of power. The development of the People’s Liberation Army is also sufficiently rapid and advanced to severely complicate America’s future ability to project power forward into East Asia to protect U.S. and allied interests. But it is not so advanced as to spoil for a fair fight. Indeed, China appears to have been largely deterred by a revitalized U.S.-Japan alliance that includes a more proactive Japanese leadership determined to defends its Southwest Island Chain and a more integrated alliance capability as articulated in new defense guidelines. Meanwhile, the alliance’s strong stance in the East China Sea has deflected some of China’s assertiveness toward the South China Sea, where there is no clear Article V commitment and a multitude of actors and disputed claims to keep the region out of balance.

An indirect approach puts a premium on what we like to call “smart power.” For the Chinese this involves building a diverse arsenal of soft and hard power policy tools, and intermingling them at varying levels of intensity to achieve a favorable balance, both at the moment and in the future. Thus, even benign moves, such as a sudden embrace of confidence-building measures and infrastructure development in the form of “one belt, one road,” can both deflect momentary pushback and, if brought to fruition, deny a competitor the ability to implement future moves. This constant calibration and recalibration among a variety of policy instruments is captured by the phrase “two steps forward, one back.” China is on a constant vigil over how to advance its regional power, brazenly accelerating when opportunities arise and shifting messages and course as necessary to adapt to rising costs and obstacles. This is not to say that the Chinese perfectly execute classical Chinese strategy. I have attended many conferences where the same Chinese official or expert simultaneously declares that no one can stop China’s actions and that China is being bullied by one of its smaller neighbors. Victimhood alternates with brazen claims amounting to spheres of influence, appropriate to 19th century realpolitik, in which big powers are meant to dictate to small powers. The mixed messaging is not always received as intended, although often China’s goal is not the intellectual purity of an argument. It is sometimes more convenient to deploy a multitude of arguments, however contradictory.

Chinese strategy is also attentive to the time factor in political developments. Broadly speaking, China seeks to engender certainty of its future power, with the corollary that crossing China now would be an imprudent course of action. In the short term, it is sometimes simply a matter of playing out the clock on various political milestones such as elections or rotating regional chairs within institutions such as the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN). Other times, China’s intent is to delay collective action by shifting the blame for potential instability onto the perceived weakest link within the context of regional politics. That is, if the Philippines or Vietnam is pushing back too hard on China’s assertiveness, then China seeks to convince other ASEAN members that a single country is upsetting the entire regional order.

China also plays the history card, or, in the case of the South China Sea, the historical rights card. Offering up an artificial island for regional cooperation — an island that under international law is not clearly China’s and which would also not engender even a territorial claim if it were originally a submerged land feature — is a way for China to take one more wild stab at buying acceptance of its vague claims of historical rights.

Despite the foregoing characterization of Chinese strategy, we should not assume that the current leadership in Beijing has a detailed blueprint for action. If that were true, then hoary phrases such as the “great rejuvenation” and the “Chinese dream” would be accompanied by far more detailed objectives. Indeed, there have been important research efforts to demonstrate the challenges Xi faces in governing a modern, diverse, and ultimately fragile China. Bearing in mind China’s sources of insecurity and its vulnerabilities will be critical in fashioning an effective posture to dissuade China from a course that relies more on unilateral coercion in favor of a course more rooted in multilateral cooperation. As Secretary of State John Kerry told his counterpart in Beijing last week, China would fare better trying to build regional cooperation than artificial islands.

2. How China’s Land Reclamation Fits In

Its Regional Strategy for Dominance

War On The Rock May 20, 2015

 

Crescent group Paracel Islands 11.8.2007 Photo credit: Swaminathan

Some analysts argue that China’s new artificial land formations in the S. China Sea are not worth worrying about as they could be easily “taken out” if war broke out. But those who take that view are failing to see how these islands fit into China’s slow motion strategy to achieve regional hegemony in the Asia-Pacific.

Since the United States and others throughout the region seek to maximize cooperation with a reemerging China while minimizing conflict, we are caught between a rock and a hard place with respect to brash acts of forcefulness such as the creation of artificial islands.  China is well on its way to doubling the preexisting land mass in the South China Sea, seeking to make its ambiguous nine-dashed line claim to most of the sea– which, in its most expansive forms, the U.S. government has stated has no basis in international law—a de facto reality.  Beijing also refuses to participate in the current case lodged by the Philippines before the International Tribunal on the Law of the Sea, thereby calling into question China’s interest in abiding by international law.  Australian academic Alan Dupont describes what China is trying to do as terraforming its way to control over the South China Sea.  China’s strategic intent may be as simple as a desire to exercise greater capability over its near seas, consistent with its growing power and confidence and infused by a sense of historical injustice, nationalism, and political exigency.

It is interesting to listen to Chinese officials struggle to explain their assertive actions.  One line of argument is that China is building up submerged land features to sustain ports and runways as a global public good.  Indeed, said Admiral Wu Shengli, China would be happy to open up the artificial islands for international cooperation, such as for humanitarian assistance and search and rescue, “when the conditions are right.”  Yet another line of argument is that previous actions undertaken by Vietnam and the Philippines require China to build up its own facilities, even though the scale of what China has done is an order of magnitude beyond what other neighbors have done.  Moreover, in keeping with China’s desire to issue ambiguous and plausibly denial threats, at least one Chinese official has said that the facilities on these submerged features and rocks were essential to help maintain “the quality of life for soldiers”—i.e., hinting to U.S. officials that they intend to build up radars, runways, docking facilities, and military garrisons on these outposts.

One does not have to gain access to classified People’s Liberation Army plans to understand the potential purpose of such island fortifications: they extend Chinese power projection capability, and they erode American power projection capability.  In the event of Chinese attempts to coerce Taiwan, for instance, the United States will have a far more difficult time demonstrating support for Taiwan than it did during the 1995-1996 crisis, when it was able to dispatch two aircraft carriers through the Taiwan Strait with relative ease.  Moreover, the potential runways and other facilities in the Spratlys and Paracels create the infrastructure that will give China a genuine ability to try to impose air and sea control, not to mention an Air Defense Identification Zone (ADIZ).  When China suddenly declared an ADIZ in the East China Sea in November 2013, it was not long before it was obvious that China could not enforce such a declared area.  Through land reclamation, the PLA will be more able to impose control over who can go where in the South China Sea, thereby raising future costs on U.S. attempts to patrol in international waters within China’s Exclusive Economic Zone (EEZ).  Significantly, China will be better poised to create a ballistic missile submarine (SSBN) sanctuary, something it may wish to establish as part of an enhanced nuclear posture.  An SSBN bastion strategy would provide China with a more survivable, mobile nuclear deterrent force capable of threatening the United States with an assured second-strike capability.  Though the aim is not to use nuclear weapons, the main effect could be to undermine America’s nuclear umbrella over regional allies, thereby hastening the pace of Chinese dominance over the region.  Here in Asia, as elsewhere, perceptions often matter as much or more than reality.

A few former U.S. officials and noted experts contend that the United States must not let the actions in the South China Sea hijack our broader relations with China.  I agree. Rather than making this a debate about whether or not to accommodate a rising China, we ought to view the problem as whether and how to draw the line on certain types of bad behavior. Paradoxically, the way to let the South China Sea hijack the relationship is to view U.S.-China security competition there as emblematic of larger ties, rather than as a singular if large point of contention therein. Moreover, the risk of a catastrophic fissure resulting from U.S. efforts to stand up against destabilizing actions is small, because China itself still values the U.S.-China relationship and does not want a fracture.

My colleagues should instead consider the consequences of not standing up for international norms or for allies and partners.  If misdeeds and bad behavior incur no penalties, if actions have no consequences, then there is very little incentive for any power to bother with standards, codes of conduct, and international law.  In other words, the challenge is not the risk of war (as opposed to inadvertent incidents, which remain all too real a problem), but rather how to embrace the contradiction of mostly supporting U.S.-China cooperation while sometimes lowering the boom when it comes to clarifying what constitutes violations of regional norms.

The real risk is that an unchecked China will realize domination of its near seas.  A disconcerting hint at such a future can be found in the 2012 crisis over Scarborough Shoal, in which the Philippines’ efforts to apprehend some Chinese boats fishing in waters claimed by Manila escalated into a months-long standoff between Chinese and Filipino naval forces.  In that instance, Washington walked its Filipino allies down and convinced Manila to de-escalate, only to see China move back in to exercise permanent control over the disputed shoal, which lies well within the EEZ of the Philippines. Privately, some scholars in China speak of this as a model for extended coercion of the United States – effectively pressuring a U.S. ally while keeping Washington at bay. Efforts to replicate this model would only benefit from the military infrastructure now being developed by China on its reclaimed land. From this vantage point, we appear ready to let China hijack the South China Sea out of the untested fear that Beijing will forfeit its interest in cooperation with the United States and other regional states.

The rules governing the Asia-Pacific matter. China’s recent pattern of behavior suggests that Beijing will indeed limit America’s integration into the world’s most dynamic region. Access to the global commons will be determined by China. While China talks win-win, it often behaves as if that means that China wins twice.

The U.S. alone can mobilize the region to preserve and adapt rules fair to all nations. Helping China grow its middle class is good, but letting China create military bases on artificial islands is bad. Helping China and the region understand the distinction will be one of the crucial tasks of statecraft in the coming years.

 

3. In Search of a Southeast Asian Response

to China’s Bid for Dominance.

 

War On The Rock May 25, 2015

.

People's Liberation Army Navy (PLA) LCU 1633 in South Sea

Sometimes order requires enforcing fair rules, even if it risks momentary confrontation.  Such is the case of this week’s overflight of Fiery Cross Reef and other artificial islands by a U.S. P8-A Poseidon patrol aircraft.  Fiery Cross Reef and other reclamation projects represent one of China’s most brazen attempts to make its controversial nine-dash line map claim to own the majority of the South China Sea a fait accompli—well before an international tribunal is expected to pronounce on the legality of that claim.  Fiery Cross Reef is not just a provocative artificial island project, but soon to be a military base from which the People’s Liberation Army and law enforcement can operate ships and planes.

As China has re-emerged in the world, Southeast Asia has risen, too.  The anxieties of rising Southeast Asian countries were largely what prompted a more active U.S. policy, known as the pivot, or rebalance.  The rebalance especially acknowledges the need for greater engagement with traditional and new partners in Southeast Asia, given our longstanding presence in Northeast Asia.  There are both opportunities and risks for the United States in further engaging Southeast Asia, but these decisions should be made in the context of relations between Southeast Asian nations and China. Because the main regional organization is action-averse, it is essential for the United States to assert the global public good of assured access to freedom of navigation and the global commons.  But the United States must continue to work to mobilize regional opinion behind the need to draw the line on bad behavior and fair rules.

ASEAN is a successful political body, providing important and myriad venues for diplomacy.  But the organization is notoriously risk-averse when it comes to confronting serious challenges. China relies on this risk-averseness, and resorts to divide-and-conquer tactics any time the 10 Southeast Asian countries appear to be uniting on anything, even a broad statement, that might be construed as antithetical to China’s interests.  Because Southeast Asian countries have such diverse interests, China is able to find numerous seams to pull apart. Additionally, because all of China’s neighbors in the region enjoy major trading relations with China, Beijing is able to offer incentives (or threaten to withhold them) in exchange for cooperation.  This helps to explain why in 2012, for the first time in the body’s 45-year history, ASEAN foreign ministers failed to issue a joint communiqué, due to disagreements over whether to include the South China Sea as a security issue of concern.

Yet even ultra-cautious Malaysia, which enjoys the largest trading relationship with China among any ASEAN member state, managed to participate in a show of unity in April of this year, declaring that reclamations in disputed waters in the South China Sea had “eroded trust and confidence and may undermine peace, security and stability.”  This recent declaration is a reminder of what unites ASEAN members: namely, the fear of meddling by outside powers.  For the past several years, China has been the main concern on this front, and the Philippines and Vietnam have borne the brunt of China’s assertiveness in the South China Sea.  Even so, attempts by the United States to provide military reassurance and presence or to offer assurances to the Philippines, incur a predictable backlash.  That is why it is incumbent on U.S. officials to calibrate efforts to strengthen our access and security cooperation in Southeast Asia, with a sharp understanding of how far the region will go, based on the balance of political forces.  In 2010, Southeast Asian states turned to the United States to provide a clear counterweight to Chinese assertiveness; but most of those official entreaties were behind closed doors and seldom known to their own publics.  We are also seeing accelerated security hedging among the ASEAN nations.  Partly, this involves seeking closer relations with the United States.  But in large measure it is also seeking stronger intra-Asian relations, including with other Indo-Asia-Pacific military partners, including Japan, Australia, the Republic of Korea, and Australia, as well as Britain and France.

 

4. Pushing Back against China’s Strategy:

Ten Steps for The United States

 

War On The Rock May 27, 2015 

 

 

Photo credit: U.S. Navy, Mass Communication Specialist 3rd Class Beverly J. Lesonik

China’s new strategy attempts to leverage growing military capabilities for regional advantage. While it speaks of balancing rights protection with regional stability, it is a subtle blueprint for slow motion hegemony. In focusing on China as a maritime and not just land power, it speaks of moving from offshore defense to open seas defense: that is, it looks forward to a full blue-water capability, thereby effectively placing the PLA Navy on a par with the U.S. Navy, at least in the near seas and Western Pacific that are most significant for China. The implicit warning to the neighbors is not to bother with building capacity and confronting a reemerging China ready to capture its central historic role. Despite this unbridled military manifesto and China’s official brimming confidence, real Chinese strategy consists not in direct confrontation, still less in conflict, but in a never-ending search for a more favorable position.

What is the United States to do about China’s slow motion strategy for hegemony in the Asia-Pacific? As I detailed in the previous installments of this series (see parts one, two, and three), China has accelerated its efforts to displace U.S. power from the region by neutralizing American military strength through anti-access/area denial (A2/AD), while preventing attempts to coalesce Southeast Asia against Chinese power. There are consequences to inaction. Failing to act now to establish what constitutes good neighborly relations may set bad precedents for opposing coercion in the future.

A U.S. counter-strategy must place allies and partners in the region at the center of its ambitions. Overlapping national interests provide the most durable foundation for opposition to aggressive behavior. When China exercises bad judgment and violates expected norms of behavior, the United States should find ways to impose appropriate costs. The least painful way to impose costs will remain indirect approaches, especially in the diplomatic, legal, and informational realms. These efforts to shape the context for coercion are often long-term and gradual propositions. Thus, occasionally the best way to arrest misbehavior must transcend the path of least resistance. So what should Washington do?

1. Arm the region with the facts. Step one should be to substantially strengthen the capacity for gathering and publicizing the facts of Chinese activities. Congress already requires an annual report on the People’s Liberation Army. But in light of the growing contest over maritime Asia, Congress should widen its demand for facts. Specifically, it should require the executive branch to keep persistent, precise, and public details of China’s military, diplomatic, legal, informational, and other relevant activities in the South China Sea. It is the administration’s job to keep these activities in the forefront of regional diplomacy at forums such as the East Asia Summit, the Association of Southeast Asian Nation (ASEAN) Regional Forum, and the ASEAN Defense Ministers’ Plus (ADMM-Plus). Congress should direct the Department of Defense, in cooperation with the Department of State, to establish an authoritative website. This real-time, cumulative information source could be supplemented by periodic analysis, including as part of an annual report of activities in maritime Asia. These activities would not require a new institution or much funding, but instead could be delegated to an existing research institution, either the China Maritime Studies Institute at the U.S. Naval War College or the Center for Naval Analyses. The key here would be to leverage all-source information to ensure these analyses are more authoritative than those that can be produced by completely non-governmental institutions.

2. Establish a common regional maritime security information-sharing center. In order to promote maritime safety, disaster relief efforts, and broader regional coordination, the U.S. government should push for the creation of a region-wide fusion center. There are opportunities for improving upon existing embryonic attempts at regional sharing. For instance, 20 states are party to the 2004 Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia (ReCAAP). Those countries have established a ReCAAP Information Sharing Center to exchange information on maritime piracy and crime. In addition, in 2009 Singapore set up an Information Fusion Center as a regional maritime security information-sharing mechanism. Located at Singapore’s Changi Naval Base, the center illuminates maritime domain awareness to deal with piracy, safety, border disputes, and disaster relief. Whatever center is to be used as the region’s central information-sharing hub, the United States should seek to find a way to push out information without being censored by ASEAN’s need for consensus. Regardless of the precise command and control arrangements, however, the fusion center should provide information to all international actors transiting international waters, particularly the 18 members of the ADMM-Plus and East Asia Summit processes.

3. Leverage imagery. A picture is worth a thousand words. Today’s unprecedented quality and quantity of imagery should be made readily available through electronic means as a regional public good. Indeed, the U.S. Pacific Command is already talking to ASEAN members about building a common operating picture to deal with universal challenges such as humanitarian assistance, disaster relief, and search and rescue operations. An essential supplement to this general effort to share information should be the purchase of commercially available satellite imagery and accelerated declassification of select classified imagery of important construction and military-related activities in the South China Sea. These images could be publicized on the maritime security information-sharing hub above. But it could also be used to support ongoing analysis to ensure more people are better informed about the dynamic developments in the South China Sea.

4. Forge a coalition of nations that follow the rules. It is time to forge a coalition of maritime countries willing to voluntarily promote a binding code of conduct like the one we hope China will one day accept. This may help reinforce those within ASEAN to keep pushing ahead on a binding Code of Conduct. In fact, one aim of mobilizing maritime countries such as Australia, Japan, and the United States, is to help South China Sea claimant states such as the Philippines and Vietnam to pressure other ASEAN members to agree to the terms of a binding Code of Conduct without waiting for China. Thus, a voluntary coalition can help exact a price on China for foot-dragging while nudging it to accept a common rule set. While this coalition would not have enforcement authority, it could well provide a wellspring for enforcement-type activity, such as the conduct of periodic patrols to maintain freedom of the seas and an open global commons. This would not and should not be an alliance. Interests are too diverse to support an alliance in Asia and it would only create the kind of polarization of Asia we seek to avoid. But absent external pressure, China has no incentive to agree to a binding code of conduct, and a voluntary code of practice could provide that critical impetus.

5. Expand international legal expertise. We must also strengthen America’s capacity for understanding, analyzing, interpreting, disseminating, and discussing international law and diplomacy regarding maritime security, especially in the South China Sea. Last December the State Department issued an all-too-rare but very useful legal explanation of China’s maritime claims in the South China Sea. Because China only wants to put out selective facts, it is vital for the United States to offer a more objective rendering of international law (perhaps mindful of the need for objectivity, in a savvy diplomatic move State only commented on China’s claims after releasing a similar document for those of the Philippines). Not only should the State Department continue regularly publishing authoritative documents on international maritime law, but Congress should support adding international legal experts to key regional policy offices at the State Department, the Department of Defense, and U.S. Pacific Command. This will be critical as we seek to support the Philippines in its efforts to address disputes through legal means and international law rather than coercion. After its eviction from Scarborough Shoal in 2012, the Philippines filed an arbitration case against China before the International Tribunal on the Law of the Sea. That slow process is finally moving toward a conclusion, and a judgment on issues such as China’s nine-dash-line claim is expected in early 2016. But the forthcoming judgment from the arbitral panel will only be important if we make the case that international law matters and remains a far better way to deal with disputes in the South China Sea than China’s forthcoming fortifications. In this connection, there are opportunities for the United States and others to cooperate with Japan, which has much more experience with litigation based on the international law of the sea than other regional states.

6. Ratify the darn treaty. It is time for America to ratify the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). More than 160 nations have acceded to this treaty, which creates common rules governing the world’s oceans. Although the United States Senate has failed to ratify the treaty, successive administrations implement it. Ironically, China has ratified UNCLOS but often refuses to implement it. The failure of Congress to ratify it only undermines our diplomatic efforts to mobilize support for a rules-based approach, while abetting disinformation campaigns aimed at undermining our credibility. As we inevitably accommodate shifts in global power, it is increasingly to our advantage to shape a common set of rules in which they occur.

7. Conduct more military exercises and shows of force. Timely and geographically meaningful exercises, not unlike the recent U.S.-Philippines amphibious exercise near Scarborough Shoal, should be conducted periodically so as to convey both concerns and capability. Likewise, the United States should give careful consideration to the right time to conduct freedom of navigation operations. The recent U.S. patrol flight over some of China’s reclamation projects in the South China Sea, which incurred repeated warnings from the PLA Navy, illustrated how a safe military operation could highlight existing international law. Similar operations with naval or coast guard vessels could also highlight the fact that submerged land features — even when they have been built up into artificial islands — earn no claim to territorial waters or airspace. This type of activity, a punch in the nose against aggression, must be placed in a careful diplomatic framework in which the United States emphasizes both engagement and hedging dimensions of its policy.

8. Build partner capacity. The United States can do much more to deny China the benefits of salami slicing tactics and coercion. The principal and easiest way to do this is by building greater capacity, both a minimal coastal law enforcement and a defense capacity, among the region’s maritime powers. The Senate Armed Services Committee wisely added some resources to the administration’s rebalance to Asia by increasing funding for building partnership capacity. Congress should also require the Pentagon to craft a long-term capacity-building plan for Southeast Asian maritime countries. This should encompass both bilateral and multilateral plans, including ways to leverage the strengthening network of intra-Asian relations. Among the highlights of any bilateral plans ought to be a clear blueprint for how to move forward with the Enhanced Cooperation Defense Agreement with the Philippines. Here we should consider not just rotational forces but human capacity building — literally supporting the Philippines as it seeks to develop future strategic concepts. The United States undertook a similar program in the early 1990s with Japan, and today Japan’s Ministry of Defense is awash with strategic depth. Similar plans of action with Vietnam should be spelled out, particularly as the United States builds on a strong foundation of strategic dialogue. Indonesia remains a looming opportunity, and President Joko “Jokowi” Widodo’s maritime awakening should be seized as an open door for expanded maritime cooperation. The effort recognizes that the world’s most archipelagic country is utterly dependent on connecting islands, building maritime infrastructure, and safeguarding Indonesia’s maritime lines of communication. In all these cases, as well as with others such as Malaysia, Myanmar, Brunei and Thailand, we must be mindful to approach cooperation in ways that can be sustained.

9. Deepen engagement on all fronts. The final leg of the policy response should focus on engagement and, more broadly, doubling down on serious implementation of a comprehensive policy of rebalancing to Asia. This must begin with economic and diplomatic approaches and be undergirded by a quiet and sustained strength. Economically, this means the completion of the Trans-Pacific Partnership and Trade Promotion Authority, which are essential for our future prosperity and security. But it also means going back to the drawing board to think through a long-term development initiative that gives the United States a more effective and positive approach to development rather than being portrayed as an obstacle to economic development. Any objective analyst standing back and comparing recent U.S. development initiatives (e.g., Lower Mekong Initiative, building energy plants in Pakistan) with the major promises of China and the Asian Infrastructure Investment Bank, would be forced to conclude that China is the rising power and America is in steep decline. But our failure of imagination, our divisive partisanship, and our failure of execution should now give way to a creative, serious, long-term way to demonstrate anew why the United States and its allies and partners have so much to contribute to problem-solving, human development, and regional integration. Rather than focused against China, it emphasizes what the United States brings to the region. Even soft power tools require a good offense.

Meanwhile, our engagement with China, including military-to-military engagement, should be institutionalized and ongoing, despite persistent friction for years to come. But this does not mean just pursuing any and all engagement. Congress is right to want to inventory the bilateral defense relationship to ensure it is balanced. Engagement of China, including pushing for effective confidence-building measures, should be an essential part of this comprehensive policy. While some want to rush to exclude China from military-to-military activities, I favor focusing on the quality of the military-to-military engagements we have. The biennial Rim of the Pacific (RIMPAC) exercise, for instance, is an appropriate way for the United States to showcase how its military presence and capability is oriented toward a region-wide public good of stability and effective responses to common challenges, from humanitarian assistance and disaster relief to search and rescue and illicit trafficking. But confidence-building measures should be meaningful, pragmatic, and not excuses for helping China to offset its more belligerent behavior in the eyes of Washington and the region. Moreover, progress on military-to-military relations should be contingent on China’s military adhering to the operational safety and risk-reduction measures announced during President Obama’s visit last November.

10. Preserve a strong presence. There is an old saying that my father-in-law, retired Rear Admiral Ronald J. Kurth, used to keep in his office when he was president of the Naval War College: “Pray to God, But Row to Shore.” Likewise, the United States should be seeking engagement and building capacity but simultaneously preserving a formidable maritime presence. New U.S. Pacific Command Commander Admiral Harry Harris represents this nation’s finest military professionalism. He epitomizes smart power. Even so, he will need the resources and number of platforms to ensure that the United States can cooperate from strength. Military and security rebalancing requires preserving the U.S. military capability to retain sufficient and credible forces forward deployed, prepared to undertake a wide array of missions, not least in situations short of war. The presence in Singapore is extremely helpful and must be nurtured. The presence in Australia is crucial and should expand over time. The presence in the Philippines should also grow, once the Supreme Court of the Philippines validates the legality of rotational presence. But another significant aspect of a serious presence as a permanent Pacific power means following through on the buildup of Marine presence and exercise ranges in the U.S. territory in Guam and the Marianas. For the longer term, we need to embrace the kind of thinking started by Deputy Secretary Robert Work, who analyzed how to invest in a “third offset” strategy to compensate for growing A2/AD capabilities in the region.

These ten steps are to varying degrees all in motion. However, far more energy and follow through are required. Empty declarations will quickly be seen for what they are. The United States must be more engaged and better prepared to build regional cooperation across the entire Indo-Asia-Pacific region. Given China’s apparent desire to assert its own rules over its expansive claims, this will also require positioning ourselves to contest the rules for maintaining good order at sea.

5. Respond to The China Challenge

by Cooperating Through Strength

 

War On The Rocks May 28, 2015

 

Photo credit: Chairman of the Joint Chiefs of Staff

An urgent challenge for U.S. policymakers is to find effective ways to respond when China throws its weight around without regard to norms or neighbors. What is particularly needed is a clear-eyed assessment of what would constitute unacceptable behavior and the development of a flexible set of policy options for imposing costs on coercive and destabilizing actions.

While we need a capable forward military presence in the Asia-Pacific region, China’s gray-zone challenges will require more than the tools available to the Department of Defense. Indeed, an interagency governmental policy review should begin with agreement on America’s desired strategic outcome: preserving and adapting an inclusive, rules-based system in the Indo-Asia Pacific.

Our aim should be not to over-militarize the problem but to seek to win the peace through a concerted, long-term strategy of cost-imposition, capacity building, and engagement. Partly this means resisting our national proclivity for rushing to resolution and instead seeking to manage disputes through a careful policy that balances ends and means, not just for the U.S. but also within the context of Southeast Asia.

Living with some level of tension, and even some contradiction between our vision and today’s reality, is for the foreseeable future the best we can do. We can neither afford to discard nor to go beyond a strategy in which engagement and hedging are the yin and yang of our regional strategy. But we can improve upon the dimensions of this dialectical approach, beginning by doubling down on a policy of comprehensive rebalance to Asia. Secretary of Defense Ashton Carter appears to be dead serious about this goal, and he is supported by some outstanding professionals such as the newly installed U.S. Pacific Command Commander, Admiral Harry B. Harris, Jr. The White House, State Department, and other governmental departments need to be equally committed. Stovepipes of excellence will not cut it when the challenge is how to deal with a comprehensive strategy for gaining greater regional control through all available means. At least when it comes to the policy of rebalancing to Asia, the administration knows there are some strong champions on both sides of the aisle in Congress.

Some contend that imposing costs on bad behavior risks conflict or at least plays into the Chinese myth that America is out to contain it. Nothing could be further from the truth.

Countering bad behavior is not the same thing as containment. Neither is using a mixture of hard and soft power instruments to counter reckless activity such as China’s island-building binge akin to letting tensions in the South China Sea hijack U.S.-China relations.

Only China can contain China and only China can derail U.S.-China relations by underestimating our resolve to ensure that stability and prosperity are not undermined by unilateral changes to the status quo through coercion or force. Some highly respected colleagues have called to halt activities that perpetuate the continued emergence of China. I would modify that call to more narrowly circumscribe what is within our power: namely, to preserve our interests by seeking cooperation through strength, putting forth a positive vision that continues to appeal to and mobilize most of the region, and yet, in seeming contradiction, being willing to impose costs on behavior that falls outside of agreed-upon rules, regional norms, and international standards.

Living with contradiction requires a constant recalibration to retain the proper balance depending on the circumstances. It means continuing to seek to advance positive engagement with China even when this seems unlikely to make a major difference. In the first place, engagement may achieve practical ways to avoid unintended consequences, such as escalation. Second, engagement sends the right message to the rest of the region about our forward-looking, problem-solving, and rules-based vision for the region.

Some will be uncomfortable with that, but I would suggest that the alternatives on offer are either too bellicose or too accommodating. The dynamic tension between engagement and hedging will not always yield the least confrontational way to pursue our goals. However, it remains the most realistic means of protecting regional order and our interests, and it is far preferable to tilting so far toward one-sided compromise that the order we are purported to be upholding is hollowed out from the inside.

But cost-imposition and bigger muscle moves must be emplaced within a larger diplomatic framework of comprehensive policy in which each move is designed to support a larger political objective. That objective relates to America’s long-term interest in being integrated into the most dynamic region in the world. The Indo-Asia-Pacific region will become the world’s locus of economic and military power in this century. We can ride with this trend or put our heads in the sand. We can build on our historic post-World War II role in erecting a system by which most, including China, have thrived or we can accept the gradual diminution of our considerable influence and position and adjust ourselves to a reduced role and stature in the world, ceding at the same time our ability to respond to external events.

The main reason we can cooperate through strength is because the pursuit of an open, rules-based system does not genuinely threaten China. On the contrary, cooperation through strength remains one of the best promises for China’s continued reemergence. The United States and China, like other countries, have both convergent and divergent interests. We should never stop trying to maximize our convergent interests. But when we have divergent interests, we should not pretend that they do not exist.   China will not stop pressing for a regional order favorable and even deferential to Beijing; in so doing, China will not shy away from occasional half-truths, spurious claims, and selective sophistry. Similarly, the United States should not relent with respect to its interests and values, bearing in mind that the luxury of preserving both requires investing in the means to back them up. Once again, the overriding objective is to “win the peace,” not catalyze a war. But preserving prosperity and stability does not mean always averting confrontation.

It is not thinkable to contain China. To pretend that we can only erodes our regional position. Conversely, fearing the need to confront bad behavior for fear of upsetting our vital relations with China fails to grasp the larger stakes at play over the future regional order. It also succumbs to a curious belief that China will reward weakness. Where is the evidence for that?

The reason I believe a strategy of cooperation through strength, including cost-imposition measures, will work is because it is — or at least it can be if embedded in a larger foreign policy framework — predicated on powerful common interests. Chinese propaganda and distrust notwithstanding, America truly does seek an inclusive system in which rules are equitably worked out among all. Rules such as those calling for settling disputes peacefully and not using force or coercion to alter the status quo ultimately benefit all, including China. They are rules we can all live by.

<< Trở về bài: Cuộc Tấn Công của Đồng Đô La Mỹ<<

 

Patrick M. Cronin

Author's Biographical Sketch:

Dr. Patrick M. Cronin is Senior Director of the Asia-Pacific Security Program at the Center for a New American Security and the former Director of the National Defense University’s Institute for National Strategic Studies. (From Project Syndicate)

Dr. Patrick M. Cronin is a Senior Advisor and Senior Director of the Asia-Pacific Security Program at the Center for a New American Security (CNAS). Previously, he was the Senior Director of the Institute for National Strategic Studies (INSS) at the National Defense University, where he simultaneously oversaw the Center for the Study of Chinese Military Affairs.

Dr. Cronin has a rich and diverse background in both Asian-Pacific security and U.S. defense, foreign and development policy.  Prior to leading INSS, Dr. Cronin served as the Director of Studies at the London-based International Institute for Strategic Studies (IISS).  At the IISS, he also served as Editor of the Adelphi Papers and as the Executive Director of the Armed Conflict Database.  Before joining IISS, Dr. Cronin was Senior Vice President and Director of Research at the Center for Strategic and International Studies (cộng sản IS).

In 2001, Dr. Cronin was confirmed by the United States Senate to the third-ranking position at the U.S. Agency for International Development (USAID).  While serving as Assistant Administrator for Policy and Program Coordination, Dr. Cronin also led the interagency task force that helped design the Millennium Challenge Corporation (MCC).

From 1998 until 2001, Dr. Cronin served as Director of Research at the U.S. Institute of Peace. Prior to that, he spent seven years at the National Defense University, first arriving at INSS in 1990 as a Senior Research Professor covering Asian and long-range security issues.  He was the founding Executive Editor of Joint Force Quarterly, and subsequently became both Deputy Director and Director of Research at the Institute.  He received the Army's Meritorious Civilian Service Award upon his departure from NDU in 1997.

He has also been a senior analyst at the Center for Naval Analyses, a U.S. Naval Reserve Intelligence officer, and an analyst with the Congressional Research Service and SRI International.  He was Associate Editor of Strategic Review and worked as an undergraduate at the Miami Herald and the Fort Lauderdale News.

Dr. Cronin has taught at Georgetown University’s Security Studies Program, The Johns Hopkins University’s Paul H. Nitze School of Advanced International Studies (SAIS), and the University of Virginia’s Woodrow Wilson Department of Government.

He read International Relations at St Antony’s College, University of Oxford, where he received both his M.Phil. and D.Phil. degrees, and graduated with high honors from the University of Florida.  He regularly publishes essays in leading publications and frequently conducts television and radio interviews.  In addition to many CNAS reports and numerous articles, his major publications include: Global Strategic Assessment, 2009: America’s Security Role in a Changing World; Civilian Surge: Key to Complex Operations (co-editor); The Impenetrable Fog of War: Reflections on Modern Warfare and Strategic Surprise; The Evolution of Strategic Thought: Adelphi Paper Classics; and Double Trouble: Iran and North Korea as Challenges to International Security.  (From Wikipedia)

<< Trở về bài: Cuộc Tấn Công của Đồng Đô La Mỹ<<

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

 

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 13 Feb 2017 08:38 PM