Các bài trong đề mục

Tài Liệu

theo thứ tự abc

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về baochinhviet@gmail.com.
DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Tổng Hội CTNCTVN

Bức Tường Thương Tiếc


Radio

Radio Việt Nam Hải Ngoại

RFA - Á Châu Tự Do

VOA - Tiếng Nói Hoa Kỳ

BBC - Đài Anh Tiếng Việt

RFI -  Đài Pháp Tiếng Việt

Little Saigon Radio

Đài Phật Giáo Việt Nam

Đài Đáp Lời Sông Núi

 


Các bài đã đăng

Trong năm 2010

Trong năm 2011

Trong năm 2012

Trong năm 2013

Trong năm 2014

Trong năm 2015

 

Tháng 01 năm 2016

Tháng 02 năm 2016

Tháng 03 năm 2016

Tháng 04 năm 2016

Tháng 05 năm 2016

Tháng 06 năm 2016

Tháng 07 năm 2016

Tháng 08 năm 2016

Tháng 09 năm 2016

Tháng 10 năm 2016

Tháng 11 năm 2016

Tháng 12 năm 2016

 

QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ

 LINH HỒN CÁCH MẠNG DÂN TỘC THỜI ĐẠI TÂY SƠN

Cát Tường biên khảo

 

Hàng năm, ngày mùng năm Tết Âm lịch người dân Bình Định tập trung về huyện Bình Khê, sau đổi thành huyện Tây Sơn dự lễ phong trào Tây Sơn khởi nghĩa. Cho đến ngày nay mặc dù triều Nguyễn cố công hủy diệt, xóa sạch và bôi nhọ, nhưng hào quang “Cuộc Cách Mạng Dân Tộc Thời Đại Quang Trung Nguyễn Huệ” vẫn chói lọi, ngời sáng trong sử sách Việt Nam. Học giả Hồ Hữu Tường từng nhận định:”Bình Định là nơi địa linh, nhân kiệt hun đúc cuộc cách mạng cứu nước, cứu dân”. Hào quang sáng ngời cuộc cách mạng dân tộc mà vua Quang Trung Nguyễn Huệ là linh hồn từ quá khứ, soi sáng tương lai. Ngược giòng lịch sử trở về thế kỷ thứ XVIII tìm lại vài nét diển hình cuộc cách mạng đó.

I.- CHUẨN BỊ KHỞI NGHĨA :

Tại sao phải đổi tên thay họ?

Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm, chào đời năm 1753 trong một căn nhà nhỏ nằm bên bờ sông Côn ở xóm Lũy thuộc ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Nhơn, nay là đất Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Tại đây Ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng sinh ra anh em nhà Tây Sơn.

Nguyễn Huệ lớn lên trong bối cảnh lịch sử vô cùng đen tối. Cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh quá lâu làm người dân lâm vào cảnh cơ cực, chết chóc, đất nước điêu tàn do những thế lực cường quyền tham ô vô độ gây ra. Ở miền Bắc chúa Trịnh lộng hành, tại miền Nam Trương Phúc Loan tự tung, tự tác. Cả hai miền quan tham tranh nhau bóc lột nhân dân. Thêm vào đó thiên tai, hạn hán kéo dài, nông dân đói khổ, không thể nộp sưu cao thuế nặng, đành phải chịu tù đày trong ngục lạnh, hay bị cưỡng bức phơi thây trên chiến địa! Trước thực trạng bi thảm đó, Nguyễn Huệ bàn với Anh là Nguyễn Nhạc và em là Nguyễn Lữ dựng cở khởi nghĩa đánh đổ bạo Chúa, cường quyền, giải phóng người dân thoát khỏi cảnh lầm than đã phải gánh chịu suốt mấy trăm năm dài trong lịch sử bi thảm.

Lòng yêu nước và tài năng thiên phú của anh em nhà Tây Sơn được Giáo Hiến, một trí thức bị Trương Phúc Loan trù dập, hãm hại trốn vào An Thái ẩn dật, mở trường dạy học cốt đem ý chí hoài bão của mình truyền lại cho môn sinh đã khám phá. Giáo Hiến quyết tâm truyền dạy kiến thức văn võ nhằm thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước, thương dân mà anh em nhà Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Huệ đã nhen nhúm trong tâm hồn từ thời thơ ấu.

Để cuộc khởi nghĩa quy tụ được nhân tài,quần chúng, trước hết là phải tạo chính danh.

Phủ Qui Nhơn lúc bấy giờ nằm trong địa phận của Chúa Nguyễn mà Quốc Phó Trương Phúc Loan tự ý phế lập nắm hết quyền bính. Theo lời khuyên của Giáo Hiến, anh em nhà Tây Sơn bỏ họ Hồ, đổi thành họ Nguyễn để lập chính danh, kêu gọi người dân cùng nhau đứng lên trừ gian thần Trương Phúc Loan, rước Hoàng Tôn Dương, tức thế tử Hoa, con của Thái Bảo lên làm Vua để yên nhà Nguyễn. Từ đó tên Hồ Thơm được đổi thành Nguyễn Huệ.

Có người cho rằng Thơm là Huệ, nên tên Thơm đổi thành Huệ, nghĩa không đổi, nhưng hay hơn. Có lẽ không phải đơn giản như vậy, Nguyễn Huệ đối họ là chủ trương, việc đổi tên cũng phản ảnh chánh sách của Ông, chứ không phải đơn thuần tên hay dở. Một trong những người biết rõ ý nghĩa tên Nguyễn Huệ là Vua Càn Long. Năm 1978, Thành Lâm, sứ giã Tầu cử sang phong Vương cho Vua Quang Trung, Vua Càn Long gửi tặng Quang Trung chiếc áo bào có thêu bảy chữ lớn màu kim tuyến nổi bậc “XA TÂM CHIẾT TRÚC ĐA ĐIỀN THỬ”. Không bàn đến bảy chữ đó, nhưng muốn đề cặp đến hai chữ đầu là “XA TÂM” . XA TÂM là chiết tự của chữ HUỆ, tên của Vua Quang Trung. Theo tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh, chữ HUỆ này có nghĩa là lòng nhân ái, khác với chữ Huệ có bộ thảo trên đầu là hoa huệ, tức là Thơm. Vậy tên Huệ của Ông phản ánh được chính sách lớn của Ông là lòng Nhân Ái. Huệ tâm của Ông đã lồng lộng thể hiện trong cuộc Cách Mạng cứu dân, cứu nước, chính sách đó còn thể hiện qua lòng bao dung với tù hàng binh.

Chính sách này thể hiện trên màu cờ Tây Sơn, nền điều “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Chính giữa nền cờ điều là vòng tròn vàng tượng trưng cho mặt trời chói sáng, có nghĩa Ông sẽ quét sạch những bóng đêm đên tối phủ trùm, đem lại ấm no hạnh phúc cho người dân. Người dân ca ngợi công ơn đó qua câu ca dao:

Tây Sơn phất ngọn cờ đào

Cứu dân dựng nước, xiết bao công trình

Danh hiệu Tây Sơn có ý nghĩa gì?

Một vài sách viết về Tây Sơn ngộ nhận cho rằng danh hiệu Tây Sơn là do anh em Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa tại ngọn núi phía Tây trong vùng Bình Khê. Không chỉ đơn thuần như vậy, Nguyễn Huệ bàn với anh là Nguyễn Nhạc lấy danh hiệu Tây Sơn để khích lệ tăng thêm lòng yêu nước và quyết tâm của Ông Sơn, một cựu thần nhà Lê giúp phong trào Tây Sơn lớn mạnh. Ông Sơn hoạt động bí mật trên vùng Djrai, dùng súng hỏa mai mua được của quân Xiêm bắn sơn ngưu chia thịt cho dân Thượng. Ông được dân thượng khắp vùng Djrai rộng lớn trọng vọng coi như người của Trời sai xuống giúp dân làm ăn sinh sống. Thoạt đầu Nguyễn Nhạc e ngại, như vậy quá đề cao ông Sơn, nhưng Nguyễn Huệ cho rằng phải lấy việc lớn làm trọng, phải đề cao những người thực tâm yêu nước để họ có trách nhiệm, chia xẻ, gánh vác việc đại sự với mình, và như thế mới tạo được ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN. Nghe Nguyễn Huệ bàn có lý, Nguyễn Nhạc thuận theo.

Đội Hương Binh Tự Vệ

Mở đầu thực hiện những chủ trương, chách sách đã đề ra, lò võ Kiến thành do võ sư Hồ Thơm dẫn đầu cùng với nữ võ sĩ Yến Vân ở làng Nhơn Nghĩa, trong lễ cúng Thần Thủy (tức Thủy Cung Hà Bá) đã thống nhất được năm lò võ An Chánh, An Vinh, An Thái, Thuận Truyền và Kiến Thành, lập đội Hương Binh Tự Vệ, lấy thanh niên đi tuần giữ làng, chống lại trộm cướp lộng hành khắp đó đây. Từ ngày có đội Hương Binh Tự Vệ, dân làng sống an vui. Đội Hương Binh Tự Vệ này chính là tiền thân Quân Đội Tây Sơn.

Song hành với việc thành lập đội Hương Binh Tự Vệ, Nguyễn Huệ bàn với Nguyễn Nhạc đang làm Biện Lại trong Phủ Qui Nhơn, tìm cách tha thuế cho dân để họ tránh bớt tù đày, đói khổ.

Đội Hương Binh Tự Vệ mỗi ngày một lớn mạnh, Nguyễn Huệ đi thêm bước nữa chủ động tấn công vào sào huyệt quân cướp Hời, những

tay trọc trọc phú, cường hào (lúc đó người dân loan tin đồn Tây Sơn cướp của người giàu chia cho người nghèo. Tin đồn này mỗi ngày lan xa). Thật ra, Tây Sơn lấy của của những người đã cướp của dân chia lại cho dân, cho nên chẳng những được người dân hoan nghênh mà còn được các nhà giàu chân chính như cụ Huỳnh Khuê, Nguyễn Thụy, Nguyễn Văn Cần... ủng hộ.

Nữ quyền được coi trọng

Chánh sách giải phóng phụ nữ được Nguyễn Huệ chú trọng và đề cao. Nguyễn Huệ chủ động đưa nữ giới ra khỏi ràng buộc giáo điều Khổng Mạnh: “thập nam viết hữu, thập nữ viết vô” đã ăn sâu vào tiềm thức của con người Việt Nam thời bấy giờ. Ông tạo hoàn cảnh cho nữ giới tự giải thoát tăng thêm sức mạnh Dân Tộc một nữa, vì thế sức mạnh đất nước được phát triển và vươn lên. Nguyễn Huệ đi trước các cuộc Cách Mạng giải phóng phụ nữ Tây Phương. Ngay từ đầu lập Hương Binh Tự Vệ, có nữ võ sĩ Vân Yến nhiệt tình giúp sức. Trong phong trào Tây Sơn còn xuất hiện nhiều vị nữ lưu sáng chói trên nhiều lĩnh vực, điển hình có bốn vị dân gian còn truyền tụng đến bây giờ :

Tây Sơn hai Bích, hai Xuân

Múa gươm diệt giặc, phá rừng nuôi quân.

Ca dao có câu “Ai về Bình Định mà coi, Con gái Bình Định cầm roi đi quyền”. Tự do, người con gái Bình Định bước ra khỏi khuê phòng, trang bị cho mình sức mạnh thể chất và tinh thần, giải thoát khỏi vòng lệ thuộc, định kiến, bất công.

Nền Dân Chủ manh nha

Ý niệm Dân Chủ phát xuất từ Hội Nghị Diên Hồng được Nguyễn Huệ noi theo. Ông mời bô lão ở các làng làm tham vấn, thật tâm lắng nghe ý kiến của người dân.

Lực lượng Hương Binh Tự Vệ thu hút hơn hai trăm thanh niên gia nhập đóng quân tại Đồng Vũ đã làm cho quân binh Trương Phúc Loan e dè, ra lệnh cho phiên Tuần Phủ sở tại phải giải tán và truy bắt những kẻ cầm đầu với lý do gây mầm mống phản loạn Triều đình. Được tin cấp báo, Nguyễn Huệ đã hội họp với

các tham vấn và các thanh niên Hương Binh Tự Vệ lấy ý kiến chung. Tất cả đồng ý đưa Hương Binh Tự Vệ lên vùng Tây Nguyên lập căn cứ Nghĩa Quân.

Thành lập căn cứ

Thành kiến giữa người Thượng và người Kinh thời bấy giờ rất sâu nặng cho nên việc Nguyễn Huệ muốn đưa Hương Binh Tự Vệ lên vùng Bà Ná lập căn cứ là một việc khó làm. Để vượt qua trở ngại này Nguyễn Huệ cùng Yến Vân và Trần Quang Diệu đưa một toán nhỏ Hương Binh Tự Vệ xâm nhập Tây Nguyên, đem theo bộ chiêng lịch sử cướp được của bọn cướp Hời. Yến Vân dùng võ thật và nghệ thuật làm say mê dân làng Kon Gam, làng đầu tiên họ vừa tới, dân làng còn say mê bộ koòng chiêng lịch sử toán Nguyễn Huệ mang theo. Nguyễn Huệ cho họ mượn hai chiếc nhỏ nhất để họ ròn trong ngày cúng Giàng hàng năm là mối cảm kích sâu đậm của dân làng đối với Nguyễn Huệ. Dân làng cũng cảm phục việc chữa bịnh của Đoàn đã làm cho con em họ khỏi hẳn nhiều chứng bịnh mà họ không chữa được. Họ tình nguyện hướng dẫn Nguyễn Huệ và đoàn Hương Binh đến làng Kon Ta Nung, nơi có người chủ bộ koòng chiêng này. Chủ bộ koòng chiêng nhận lại vật gia truyền đã mất và xin nhận Nguyễn Huệ làm cha, bởi vì vật gia truyền có được chỉ khi cha để lại cho con. Thiện cảm của dân Thượng đối với Đoàn Hương Binh của Nguyễn Huệ đã lan rộng khắp các làng trong khu vực Bà Ná, họ không còn nhìn người Kinh như những định kiến trước đây. Với tài dân vận, Nguyễn Huệ đưa Hương Binh Tự Vệ lên vùng Tây Nguyên hiểm trở lập căn cứ, chẳng những trách được tai mắt của Trương Phúc Loan mà còn phát triển đội quân Tây Sơn càng ngày càng hùng mạnh có sự đóng góp nhiệt tình thanh niên nam nữ người Thượng tình nguyện gia nhập.

Lập được căn cứ Tây Nguyên, Nguyễn Huệ tiến hành nhiều mặt như sau:

- Vận động thanh niên Kinh, Thượng tòng quân.

- Đẩy mạnh sản xuất vũ khí, đạn dược, từ thô sơ đến hiện đại như gươm, giáo mác, cung tên, súng trường, súng phun lửa, súng liên thanh và súng đại bác...

- Thành lập đường dây an ninh, tình báo, mật báo, phản gián xâm nhập vào hàng ngũ binh sĩ Trương Phúc Loan để thu lượm tin tức, vận động binh sĩ đào ngũ hay lưu ngũ chờ thời làm binh biến khi cần.

- Phát triển kinh tế nuôi quân cùng với việc vận động mạnh thường quân giúp tài chánh

Chuẩn bị khởi nghĩa

Để thi hành những chủ trương đề ra, Nguyễn Huệ phân công nữ Tướng Ngọc Bích vận động mạnh thường quân giúp Nghĩa Quân, nữ Tướng Nguyễn Thị Bích chỉ huy mở đồn điền, trồng trọt, chăn nuôi. Thêm vào đó Nguyễn Huệ thành lập ba toán đãi cát lấy vàng dọc theo vùng sông Ba, sông Côn. Bước đầu việc làm kinh tế của hai nữ tướng chẳng những nuôi sống được đội quân Tây Sơn mà còn có tiền mua vật liệu chế tạo vũ khí cho quân đội Tây Sơn. Hai nữ Tướng khác là Bùi Thị Xuân và Đàm Thị Xuân chỉ huy tập luyện quân sĩ. Trong giai đoạn này căn cứ Nghĩa Quân được sự trợ giúp đắc lực của Ông Sơn đưa thanh niên, voi, ngựa từ vùng Djai về căn cứ và liên lạc với quân Xiêm mua súng ống đạn dược cho quân Tây Sơn nghiên cứu, mô phỏng mà chế tạo.

Việc tha thuế của Nguyễn Nhạc thành công trên mặt trận tâm lý. Tiếng lành của Nguyễn Nhạc được lan rộng đến tai Trương Phúc Loan. Trương Phúc Loan ra lệnh cấp tốc kiểm kho làm tang chứng bắt Nguyễn Nhạc. Đường dây tình báo của Tây Sơn nắm được tin chính xác đã tức tốc đưa Nguyễn Nhạc thoát khỏi nanh vuốt Trương Phúc Loan, đến căn cứ Bà Ná đóng tại Hòn Một, người dân sau này quen gọi là Hòn Ông Nhược. Căn cứ này địa điểm cao, đường hiểm trở, chiếm ưu thế phòng thủ lẫn tấn công, được dùng làm Bộ Chỉ Huy Nghĩa Quân.

Ngày mùng hai Tết năm Nhâm Thìn (1772), lần đầu tiên vùng Bà Ná tổ chức Tết Nguyên Đán, ngày ra mắt trọng đại Nghĩa Quân Tây Sơn. Đúng giờ ngọ, chín phát đại bác nổ vang, đại kỳ màu điều được kéo lên kỳ đài. Đức Lệnh Nguyễn Nhạc vận quốc phục, chít khăn vàng cung kính khấn vái trời đất và long trọng đọc bản Hiệu Triệu Tây Sơn gửi đồng bào Kinh Thượng. Sau đó là biểu diễn võ thuật do nữ võ sĩ Yến Vân điều khiển. Cuộc diễn binh tiếp theo là đơn ví Bộ Binh do Tướng Trần Quang Diệu dẫn đầu cùng Trương Bảo, đơn vị nữ binh có Tướng Bùi Thị Xuân điều khiển, và đơn vị cứu thương được cô Thùy Dương đại diện biểu diễn thao tác.

Đến nay những địa danh căn cứ Nghĩa Quân Tây Sơn vẫn còn được nhắc đến như hòn Ông Nhược, hòn Ông Hòe là Bộ Chỉ Huy của Nguyễn Huệ nằm án ngữ trên đường độc đạo đèo Độc Vạn (An Cửu), hòn Tà Diêm, nằm giữa hai Bộ Chỉ Huy của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ do Nguyễn Lữ chỉ huy, phụ trách chế tạo vũ khí. Gò Đầm Bảng là quân trường luyện tập tân binh. Theo Đại Nam Chính Biên Liệt truyện, sử của nhà Nguyễn chép xác nhận cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu từ năm 1771, đến năm 1773, chiếm được thành Qui Nhơn, cai quản vùng đất rộng lớn ở quận hạt này.

II.- THIÊN TÀI QUÂN SỰ CỦA VUA QUANG TRUNG:

Thông thường, nói đến nhân vật lịch sử Quang Trung Nguyễn Huệ, người đời nghĩ ngay đến thiên tài Quân Sự của Ông. Quân Xiêm thua trận đầu năm 1785, gọi Nguyễn Huệ là “Tướng nhà Trời”, quân Chúa Nguyễn cho rằng: “quân Nguyễn Huệ ứng biến như thần”. Tôn Sĩ Nghị sau khi mất đồn Ngọc Hồi đã thốt lên: “Sao Nguyễn Huệ hành quân thần tốc đến thế”. Nhận xét chung, quân thua trận gọi Nguyễn Huệ là Trời hay Thần. Ngay cả một số Giáo Sĩ Tây Phương có thành kiến, gọi quân Tây Sơn là phiến loạn, gọi Nguyễn Huệ là tiếm Vương, là bạo Chúa, nhưng vẫn phục thiên tài quân sự của Ông. Họ không ngại so sánh Nguyễn Huệ với Alexandre Đại Đế hay Attlita, những nhà quân sự bách chiến bách thắng của Âu Châu. Trong bức thư đề ngày 6 tháng 7 năm 1789, Giáo Sĩ Lefroy, có đoạn viết : “Ông ta, (chỉ Nguyễn Huệ), người can đảm và được coi là Alexandre Đại Đế ở đây”

Thiên tài Quân Sự của Quang Trung Nguyễn Huệ là gì?

Theo Tôn Tử, Tướng Tài gồm sáu yếu tố: TRÍ, NHÂN, KÍNH, TÍN, DŨNG, NGHIÊM

Trí để thắng địch bằng mưu lược. Nhân để mọi người thương yêu. Kính để chiêu hiền đãi sĩ. Tín để mọi người tin theo. Dũng là thêm chí khí. Nghiêm là để nhất lệnh. Đối chiếu với quân Tây Sơn, Nguyễn Huệ có đủ sáu yếu tố đó. Ông ta là một chiến lược gia có nhiều mưu trí cùng nghiêm lệnh là nét nổi bậc của thiên tài Nguyễn Huệ. Những trận đánh lịch sử đã có nhiều sử sách ghi chép, và xin đơn sơ xem việc Nguyễn Huệ vận dụng sáu yếu tố binh lược của Tôn Tử để trở thành một nhà Quân Sự bách chiến, bách thắng.

Về mặt Dân, Binh Vận:

Lập chính danh ngay từ ngày đầu chuẩn bị khởi nghĩa đã là công tác dân vận có hiệu quả lâu dài trên trận tuyến tư tưởng. Diệt Trương Phúc Loan để phục hồi nhà Nguyễn, diệt Chúa Trịnh để trả quyền bính cho Vua Lê đã làm nức lòng dân cả hai miền Nam Bắc. Thật vậy, chính nghĩa này được thắp sáng khi hai lần ra Bắc Hà, Nguyễn Huệ tỏ ra không màng danh lợi, đem quyền bính trả lại cho Vua Lê. Điều này cho đến tận bây giờ cũng khó thấy trong sách sử hay thực tế. Quyền bính thường là bùa mê làm say lòng người, làm máu thịt ly tan, chính sự đảo điên. Sự việc này Ngọc Hân Công Chúa nhận xét:

Màu cờ thắm trở về đất Bắc,

Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng Dương”.

Trí thức lẫn người dân Bắc Hà thấy được tấm lòng của Ông, cho nên khi Ông kéo quân ra Bắc diệt quân Thanh thì triệu người như một hăng hái tòng quân, tiếp vận trong trận tuyến Quân Dân cá nước, một sức mạnh thần kỳ trỗi dậy, toàn dân tham gia đánh giặc.

Giáo sĩ Longer ở Thuận Hóa trong bức thư gửi về Pháp năm 1789 có đoạn viết: “tất cả mọi người từ mười lăm tuổi trở lên đều đi lính, những người già, phụ nữ sửa sang cầu cống, đường sá, xay thóc giã gạo”. Giáo sĩ Doussain cho biết: “nhân dân Thuận Hóa thực hiện khẩu hiệu toàn dân tòng quân diệt giặc

Một vài dấu tích lưu lại các Thư Viện Phương Tây cho thấy Nguyễn Huệ được nhân dân ngưỡng mộ, tin theo. Quân Đội Tây Sơn qui tụ nhiều thành phần, nhiều tầng lớp xã hội như: nông dân, thương nhân, trí thức, có cả người Hoa, dân tộc thiểu số, có cả tín đồ Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo. Người dân tin tưởng Nguyễn Huệ, binh sĩ tuyệt đối tin tưởng Ông, không những Ông có năng lực tổ chức Quân đội tài ba, chuẩn bị chu đáo, mà còn thán phục Ông ở tầm nhìn chiến lược, tính dự báo chinh xác và ứng biến như Thần. Ngay Nguyễn Nhạc cũng thán phục Nguyễn Huệ: “Bắc Hà khó lấy mà Đệ lấy ngay được là chỗ thần diệu trong phép dụng binh”.

Cổng tam quan gò Đống Đa

Để chuẩn bị đánh quân Thanh, đạo quân hùng mạnh, có tiếng bách chiến bách thắng, ba mươi Tết Quang Trung cho mở tiệc khao quân, cho binh sĩ ăn Tết trước và khẳng định: “Ta và các người sửa lễ cúng Tết trước đã, tới ba mươi lập tức lên đường, hẹn đến mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng, các người nhớ lấy, đừng cho ta nói láo” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Huấn dụ của Vua Quang Trung quả là động cơ tiếp sinh khí cho quân Tây Sơn tấn công vũ bão, chiến thắng nhanh, đã vào Thăng Long ăn Tết sáng ngày mùng năm, sớm hơn hai ngày so với kế hoạch hành quân trù liệu.

 

 

Bí mật và thần tốc

Kỹ thuật quân sự càng phát triển, yếu tố tốc độ và bí mật được tuyệt đối chú trọng. Nhưng từ thế kỷ thứ XVIII Nguyễn Huệ đã huấn thị cho Tướng Sĩ “Điều binh cốt lấy nhanh làm

thần” (Minh Đô Sứ). Trong các cuộc hành quân của Ông đã chứng tỏ điều này.

Tháng 7 năm 1786, Nguyễn Huệ ra Thăng Long, tiếp đó Nguyễn Nhạc ra theo. Các thủ lĩnh Tây Sơn bàn rút khỏi Thăng Long, thế là chỉ hai tiếng đồng hồ sau, từ canh hai ngày mười bảy tháng bảy âm lịch, hai vạn quân Tây Sơn đã bí mật triệt thoái khỏi Thăng Long. Trước sự kiện lớn lao đó, cả kinh thành hầu như chìm say trong giấc ngủ, ngay cả Nguyễn Hữu Chỉnh là bộ hạ, thức suốt đêm canh chừng mà hầu như chẵng hay biết gì?

Ngày 12 tháng 12 năm 1788, Đô Đốc Nguyễn Hữu Thiết mang tin về tình hình quân Thanh chiếm đóng Thăng Long về Phú Xuân cấp báo. Trong lúc các Tướng hoảng hốt thì Nguyễn Huệ thản nhiên. Ông ra lệnh lập đàn Nam Giao ở Núi Bân, phía tây núi Ngũ Bình làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, chuẩn bị phản công quân xâm lược Mãn Thanh. Ngày hôm sau đại lễ được cử hành, hơn sáu vạn quân được lệnh tập trung trước lễ đài nghe Ông đọc Chiếu lên ngôi và Lệnh xuất quân. Với phương tiện thông tin liên lạc và vận chuyển thời đó, chỉ trong vòng mười hai tiếng đồng hồ mà hơn sáu vạn binh sĩ được lệnh đã có mặt trước lễ đài với đầy đủ trang bị cho một cuộc viễn chinh, quả là tài tình thần tốc do Nguyễn Huệ tổ chức, ít ai làm nổi. Cuộc tấn công tiêu diệt quân Thanh xuất phát từ Phú Xuân ngày 22 tháng 12 năm 1788 đến ngày 30 tháng 1 năm 1789 đã vào Thăng Long, chỉ mất bốn mươi ngày. Trên đường hành quân, Ông vừa tuyển quân, huấn luyện, tranh bị, vừa đánh địch ngay tại các cứ điểm, đồn bót tiền phương và viễn thám địch nằm trên hệ thống phòng thủ dày đặc, kéo dài hàng trăm cây số, tiến tới những trận đánh quyết định. Các Quân, Binh chủng Tây Sơn đều ra quân cùng lúc ở Phú Xuân, hẹn phối họp triển khai chiến đấu ở Tam Điệp. Họ tập họp tại Tam Điệp đúng vào giờ G hẹn ước trong phương án hành quân ít ai hiểu nổi Quang Trung đã tổ chức truyền tin như thế nào?

Trần Công Xán, một cựu thần nhà Lê nói: “Người Tây Sơn hành quân như bay, tiến quân rất gấp, xem họ đi lại vùn vụt, mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp, xưa nay chưa nghe nó có giặc nào như thế”.

Người Pháp cũng lo sợ lối hành quân thần tốc của quân đội Tây Sơn. Ngày 1 tháng 6 năm 1788, trong lá thư gửi cho Letondal, Giáo sĩ La Bartteteco viết: “Tôi không rõ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra, nhưng tôi e sợ rằng quân Pháp của chúng ta kinh thường bọn này (chỉ quân Tây Sơn) và không am hiểu tường tận về cách hành binh của họ, và ta không đủ sức mạnh thì có thể trở thành nạn nhân bi thảm”

Trang bị và vũ khí

Riêng về trang bị và vũ khí, các nhà nghiên cứu cho rằng quân Tây Sơn đã đạt được trình độ quốc tế, các nước phương Đông và cả phương Tây thời bấy giờ khó có thể so sánh. Chính sách cải tiến và phát triển võ trang dưới thời đại Quang Trung Nguyễn Huệ cũng là yếu tố quyết định chiến thắng.

Về trang bị, người ta chú ý đến thuyền chiến, voi chiến và ngựa chiến dưới thời Vua Quang Trung.

1) Thuyền chiến.-

Thuyền chiến Tây Sơn đạt được trình độ cao, hơn hẳn thuyền chuyến của Tây phương thời bấy giờ. Mỗi chiếc có thể chở từ bảy trăm đến tám trăm thủy thủ và mang theo được từ sáu mươi đến bảy mươi cỗ đại bác. Lúc đó thuyền chiến của Tây phương trang bị cho quân đội Nguyễn Ánh chỉ chở ba chục cỗ đại bác và thủy thủ cũng chỉ bằng phân nửa. Hai sĩ quan người Pháp giúp Nguyễn Ánh là Banizy va Chaigneau trong thư gửi về Pháp đã xác nhận điều này.

2) Voi chiến và ngựa chiến.

Ngựa chiến đã ược dùng trong chiến tranh từ Đông sang Tây. Nguyễn Huệ dùng kỵ mã cho đoàn binh tinh nhuệ do Tướng Trần Quang Diệu chỉ huy, phát huy cao độ sức chiến đấu, nhưng đặc biệt Nguyễn Huệ đã phát triển đoàn voi chiến. Từ thuở dựng nước, Bà Trưng, Bà Triệu đã từng dùng voi chiến, nhưng phát triển được thế mạnh của đội quân này phải đợi đến

thời Tây Sơn. Mỗi thớt Voi được dùng cho mười ba binh sĩ và kéo theo một đại bác. Voi Tây Sơn vừa là phương tiện vận chuyển, vừa là đội quân xung kích và hỏa lực được điều động theo nhịp trống trận và tù và của người chỉ huy. Voi còn là đội quân mở đường san bằng các chướng ngại vật giống các chiến xa cơ giới ngày nay.

Trước khi xâm lược nước ta, Tôn Sĩ Nghị đã e dè chạm trán đoàn Tượng quân này nên bày trận đánh voi giả. Ngoài ra, trong tám điều quân lệnh, điều thứ tư nói về chống voi chiến Tây Sơn:

Người Nam đánh trận hay dùng voi. Voi không phải là con vật ở Trung Quốc tập làm quen, nên khi gặp phải trước tiên quân ta thế nào cũng tránh chạy. Nên biết rằng sức voi tuy mạnh, nhưng chung qui cũng là thân máu thịt, không thể đương đầu được với súng ta. Nếu thấy voi ra trận, xa thì bắn súng, gần thì dùng cung hay đao, làm cho nó đau mà chạy trở lại, dày xéo lên nhau, quân ta nhân cơ hội ấy mà tiến lên chém giết, thế nào cũng thắng trận, không nghi ngờ gì nữa, cần chỉ bảo nhau cùng được biết

Tôn Sĩ Nghị đã lầm, Voi chiến Nguyễn Huệ được huấn luyện thật kỹ ngay từ ngày đầu thành lập Căn Cứ Bà Ná, được làm quen với tiếng la hét, tiếng súng và lửa. Vì thế khi đồn Ngọc Hồi bị tiến công, Kỵ mã quân Thanh vừa xuất trận, chạm mặt Voi chiến Tây Sơn đã hí chạy, dẫm đạp lên nhau mà chết, dẫm đạp lên danh giá của Thiên Triều.

3) Vũ khí.-

Ngoài gươm, giáo, mác, cung tên, quân đôi Tây Sơn được trang bị bốn loại súng: súng trường, súng phun lứa, súng liên thanh và đại bác. Tài liệu mô tả quả đạn đại bác của Tây Sơn lảm sập cây cổ thụ, phá vỡ bức thành bằng gạch, hơn hẳn đại bác của Triều Nguyễn chế tạo vào thế kỷ mười chín. Dân Bắc Hà thấy tận mắt đại bác của Tây Sơn mô tả: “nghe tiếng súng ầm ầm như sấm, khói lửa ngút trời, quân lính hoảng sợ nháo nhào kêu la, giặc đã đến, chặn mất đường lui và bỏ chạy” Ngay từ những ngày đầu thành lập căn cứ Bà Ná, quân đội Tây Sơn đã chế tạo được đại bác, và loại vũ khí này được đưa ra trận bằng thuyền hoặc voi. Súng phun lửa còn được gọi rồng phun lửa, được chế bằng diêm sinh dùng đánh phá thành lũy, đốt doanh trại và áp đảo địch quân. Các binh chủng Thủy, Lục quân của Tây Sơn được trang bị loại vũ khí này. Trong tám điều quân lệnh của Tôn Sĩ Nghị có điều năm nói về việc chống súng phun lửa, chứng tỏ quân Thanh rất lo sợ về loại vũ khí lợi hại này. Súng trường cá nhân là loại vũ khí chính trang bị cho Bộ Binh, là loại súng ngắn, có miệng loe, bắn từng phát một, tầm bắn vài trăm mét nhằm kết hợp giữa xung lực và hỏa lực khi tấn công. Súng liên thanh trang bị cho Hải quân dùng để triệt hạ thuyền địch.

4) Tình báo.- 

 

Quân Lực của Quang Trung Nguyễn Huệ bách chiến bách thắng cũng do biết rõ địch. Ngay từ khi quân đội Tây Sơn thành hình Nguyễn Huệ đã chủ trương và trực tiếp chỉ huy lĩnh vực Quân báo. Năm 1789, trận đánh Phú Xuân, Nguyễn Huệ nắm chắc quân số của Phạm Ngọ Cầu khá mạnh trên ba chục ngàn quân, nhưng tính Phạm Ngọ Cầu đa nghi, khiếp nhược và không hòa hợp được với phó Tướng Hoàng Đình Thế. Nguyễn Huệ cử nhân viên phản gián giả làm thuật sĩ, lấy việc họa phúc mê hoặc Cầu. Cầu nghe thuật sĩ lập đàn chay bảy ngày đêm làm kệt quệ sinh lực binh sĩ. Nguyễn Huệ sai Nguyễn Hữu Chỉnh viết thơ, bọc sáp gửi hẹn ước với Hoàng đình Thế làm nội ứng, nhưng thư này phải đến tay Cầu để ly gián giữa Cầu và Thế. Chỉ dùng mưu, Nguyễn Huệ lấy Phú Xuân dễ dàng.

Theo Đại Nam Chính Biên Liệt truyện, ngay thời điểm xuất quân đêm ba mươi Tết, Quang Trung đã tấn công vào đồn Gia Khâu, bắt gọn đội quân tình báo của địch. Khai thác tin tức từ nội bộ địch tình, Quang Trung dựa vào đó ban lệnh hành quân, sang Xuân mở hai mũi tấn công, một mũi do bộ binh tiến công, mũi khác do Thủy quân xung kích tấn công vào Bộ Chỉ huy đầu não quân xâm lược đóng tại Thăng Long thành. Hậu cứ Phú Xuân, Vua Quang Trung chuẩn bị chu đáo đội quân hậu bị canh giữ thành trì và chiến đấu tại chỗ để tự vệ. Nhờ tổ chức trình báo và trinh sát giỏi, Vua Quang Trung nắm rõ địch tình, quân số, vũ khí, chiến thuật từng cứ điểm phòng vệ của địch quân. Ông chuẩn bí chu đáo phương án hành quân phù hợp cho mỗi đợt tấn công. Với đồn Hà Hồi, cách Thăng Long ba chục cây số, nửa đêm mùng ba Tết, tức ngày 28-1-1978 Vua Quang Trung cho binh sĩ bí mật, bất ngờ vây chặt đồn lũy, bắt loa gọi hàng. Nghe lời truyền của Vua Quang Trung, binh sĩ vâng dạ như sấm, trống trận vang lên từng hồi như đoàn đại binh đã siết chặt vòng vây làm địch quân kinh hoàng, ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, quân sĩ lục tục ra hàng. Hạ Hồi bị hạ trong chốc lác, không tốn đạn, không tốn mồ hôi và xương máu. Với đổn Ngọc Hổi cách thành Thăng Long 14 cây số, quân địch phòng vệ kiên cố, Vua Quang Trung cho công thành dữ dội. Đồng bào quanh vùng mang ván bện rơm tiếp cho Bộ Binh làm giáp che chắn, và đồng thời dùng làm thang cho đội tiên phong tấn công với sự yểm trợ của đại bác và voi chiến phá thành. Với lối đánh thần tốc tài tình đó, Tôn Sĩ Nghị kinh hồn, thốt lên rằng: “sao mà thần đến thế!”

5) Tiếp Vận và Quân Lương

Quân đội Tây Sơn thường chú trọng đến việc cung cấp lương thực tại chỗ do đồng bào địa phương ủng hộ tránh được nhiều phiền toái trong việc vận chuyển ành hưởng đến tốc độ tiến quân. Có tài liệu cho rằng quân Tây Sơn dùng bánh tráng làm lương khô, món ăn truyền thống của người dân Bình Định. Có tài liệu khác nói rằng làng Đường Xuân có phường đúc nồi nổi tiếng ở Huế, dưới thời Tây Sơn, các thợ đúc đã sản xuất được lại nồi vừa nấu cơm vừa di chuyển cống hiến cho quân đội Tây Sơn. Truyền thống hội Xuân làng này vẫn còn lưu giữ và trình diễn loại nồi này như chứng tích lịch sử mà dân làng đóng góp thành tích chiến thắng thần kỳ của quân Tây Sơn.

6. Kỹ Luật:

Bia đá ghi lời hịch của vua Quang Trung tại Gò Đống Đa Hà Nội

Kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Khẩu hiệu này trở thành hiển nhiên cho Quân Đội chính qui ngày nay. Vua Tây Sơn lúc bấy giờ chú trọng tính nghiêm lệnh đảm bảo quân đội của Ông có tính kỷ luật cao. Theo Minh Đô Sứ, sau khi thất bại, quân Xiêm nhận xét về Nguyễn Huệ: “có nhiều mưu lược, hiệu lệnh như lửa, hễ ai phạm vào luật cấm thì chém không tha. Tướng sĩ đều kinh sợ Ông như thần”. Theo Hoàng Lê Thống Nhất chí : “năm 1786, khi ra Thăng Long, Nguyễn Huệ vào

thành đã hạ lệnh cấm binh sĩ không được cướp bóc của người dân”

Năm 1787, cũng đội quân đó nhưng do Vũ Văn Nhậm chỉ huy thì Nhậm thả lính lùng khắp nhà dân, phố phường lấy nhiều của báu. Đồng bào Thăng Long ta thán: “Quân đội trước hành quân không hề chạm đến mảy may của dân, có người lấy nón của dân che cho quân cũng không được, sao nay dân lại bị hại đến thế” Một Giáo Sĩ sống lâu năm ở Thuận Hóa, trong bức thư gửi về Pháp viết: “Tây Sơn có khi điều động từ hai trăm đến ba trăm ngàn quân, thực sự bọn họ bị cưởng bức, nhưng tất cả đều quyết tử, kẻ nào nhìn về phía sau trận địa lập tức bị chém đầu”. Nhờ kỷ luật cao, Quân Đội Tây Sơn được quần chúng yêu thương, tin tưởng và ủng hộ.

III.- CHÁNH SÁCH VUA QUAN TRUNG ĐÃ THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG ÁN CHO TƯƠNG LAI:

Nguyễn Huệ đưa Nguyễn Nhạc lên địa vị tối cao cốt tạo cho Tổ Quốc Việt Nam được Độc Lặp, Dân Việt được phú cường. Nhưng nắm quyền bính trong tay, theo Đại Nam Chính Biên liệt truyện thì Nhạc đắc chí, càng ngày càng dâm dật, hung bạo. Vì can gián Nguyễn Nhạc không nghe, cứ gây thêm tội ác, vì thế để có chính danh đánh quân Thanh xâm lược, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, nhằm thành lập chính quyền Dân Tộc, hoàn thành những hoài bão tạo dựng nước Việt Nam Độc Lập, Thống Nhất và Phú Cường. Nắm quyền Vua Quang Trung đã làm cách mạng trong nhiều lĩnh vực sau đây:

1) Về chính Trị:

Xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII đứng trước sự khủng hoảng nghiêm trọng. Nho Giáo vốn là cương lĩnh chính trị của tầng lớp quan lại dùng để cai trị dần dần mất tác dụng. Triều đại nhà Lê cầu xin Tầu, nhà Nguyễn cầu viện quân Xiêm rồi đến quân Pháp đưa quân đội ngoại bang vào giúp củng cố quyền hành, đàn áp dân chúng. Hành động của Triều Lê lẫn Triều Nguyễn vô hình chung “rước voi về dày mã tổ, cõng rắn cắn gà nhà”. Trong lúc đó Vua Quang Trung chú trọng đến việc đại đoàn kết toàn dân, phát triển đất nước. Trong bài chiếu cầu hiền, ta thấy cái thực tâm của Vua Quang Trung: “Vậy ban chiếu xuống để quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều được phép dâng thư bày tỏ công việc, những tài năng, mưu lược có thể dùng được, thì được đặc trách bổ dụng, những loại không dùng được thì để đấy, chứ không bị bắt tội vu khoác. Những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời thì cho các quan văn võ được tiến cử, lại cho dân đến yết kiến, tùy tài mà bổ dụng, hoặc có người từ trước tới nay dấu tài, ẩn tiếng, không ai biết cũng cho phép được dâng thư, chớ có ngại cho thế là đem ngọc bán rao. Lúc trời đất bế tắc thì hiền thần ẩn náu. Xưa thì đúng vậy, nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức thì nên cố gắng để được rạng rỡ chốn cung đình. Bố cáo gần xa để cùng nghe biết”.

Rõ ràng, không phân biệt, không chia rẽ, không bè phái, chỉ có quyền lợi tối thượng Tổ Quốc, Dân Tộc trên hết. Vua Quang Trung vận dụng được tài năng trong quần chúng để canh tân đất nước nhằm mục tiêu hướng tới dân giàu, nước mạnh.

Năm 1786, ra Thăng Long, Nguyễn Huệ không nhằm chiếm đoạt ngôi Vua Lê hoặc thay quyền Chúa Trịnh hưởng vinh hoa phú quí theo thường tình, Ông tìm ngay các Tiến sĩ, quan lại của hai nhà Lê, Trịnh, chọn người có tài đưa về Phú Xuân để cùng thực hiện chính sách cải cách lâu dài cho đất nước. Trong giới Nho sĩ, Ông mến những người có tài thực sự, có tâm yêu nước, thương dân, cho dù trong quan điểm chính trị có khác. Nguyễn Huệ hiểu họ nên kiên trì thuyết phục để họ ra giúp nước như Nguyễn Đăng Dung, Trần Công Xán, Nguyễn Thiệp v…v...Cái huệ tâm của Nguyễn Huệ chinh phục được các Tướng lãnh Tây Sơn Trần Quang Diệu, Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Thuyết rời bỏ Nguyễn Nhạc về Phú Xuân cùng với các Nho sĩ Bắc Hà tạo nghiệp sự nghiệp lớn, thành công lớn cho Dân Tộc. Với đường hướng chính trị hướng về hạnh

phúc cho dân, Vua Quang Trung lập chính quyền cũng theo chiều hướng đó. Chiếu lên ngôi, Vua Qung Trung nhấn mạnh:“NHÂN NGHĨA, TRUNG TÍN là ĐẠO LỚN của con người, trẫm cùng dân canh tân”. Muốn canh tân phải có chính sách phù hợp từ thực tế của đất nước được các trí thức có thực tài soạn thảo. Quang Trung mạnh dạn phong tước hầu với chức Trung Lệnh Thư cho Trần Văn Kỳ ngay từ buổi đầu sơ ngộ, phong tước hầu với chức Tả Thị Lang Bộ Lại, một Bộ quan trọng cho Ngô Thời Nhiệm, trực tiếp trông coi việc Nội Chính Bắc Hà. Buổi đầu lập nghiệp các chức quan trọng trong triều, và quản trấn nhiệm địa phương Vua Quang Trung giao cho các võ tướng cấp cao đã từng chung lưng đấu cật với Ông chiến đấu. Nhưng vì nhu cầu phát triển đất nước, dần dần Ông đã thay các Văn thần vào những chức vụ trọng yếu, kể cả chức Thượng Thư Bộ Binh để có một Chính Quyền mạnh hầu thực hiện trọng trách Cách Mạng Dân Tộc.

2) Về Văn Hóa, Giáo Dục

Để canh tân đất nước Vua Quang Trung chú trọng đến Văn Hóa Giáo Dục. Quan điểm đó thể hiện trong Chiếu HỌC TẬP:“Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước lấy nhân tài làm gốc. Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra giúp nước”. Để phát triển lãnh vực này, Nguyễn Huệ kiên nhẫn mời Nguyễn Thiệp, đề cao Ông như Thánh. Bức thư đề ngày 10 tháng 8 năm 1789, Vua Quang Trung viết: “mong Phu tử nghĩ đến thiên hạ vực dậy mà đi, để Trẫm đây có thầy mà thờ, cho đời này có người mà cậy, như thế mới ngõ hầu khỏi phụ ý trời sinh ra kẻ giỏi”. Vua Quang Trung mời Phu Tử ra giúp nước chỉ vì Dân Tộc, nhưng Nguyễn Thiệp vẫn ràng buộc trong cái hẹp hòi của đạo “quân thần” với nhà Lê, đã nhiều lần từ chối, có khi nặng nề đụng chạm đến bậc Quân Vương, nhưng Vua Quang Trung đặt quyền lợi Tổ Quốc, Dân Tộc lên trên cá nhân, vẫn kiên trì thuyết phục. Cuối cùng Nguyễn Thiệp cũng chịu ra giúp Vua Quang Trung mở Viện Sùng Chính dịch sách ra chữ nôm để người dân dễ học, từ đó mở những kỳ thi tuyển nhân tài. Vua Quang Trung là vị Nguyên thủ đầu tiên nghĩ đến việc mở rộng học vấn cho người dân đến tận cùng thôn xã. Nhà Vua tuyển chọn thầy dạy có hai điều kiện: học vấn và hạnh kiểm. Ngay bản thân nhà Vua cũng học văn hóa và lịch sử Việt Nam do quan bí thư riêng giảng dạy mỗi tháng sáu kỳ. Ngay trên chiến trường lửa đạn Thăng Long, nhà Vua khí khái nói với Ngô Thời Nhậm: “Phải phiền Ông làm bài thơ đuổi giặc. Nếu không được thì túi đao, bao kiếm là phận sự của kẻ võ thần” Vua Quang Trung đã thấy cái diệu kỳ của cây bút, của thơ văn trong nền văn hóa Dân Tộc trong việc cứu nước và dựng nước.

3) Về Kinh Tế

Muốn nước giàu, dân mạnh phải lo phúc lợi và phát triển kinh tế. Vua Quang Trung chú trọng trước tiên vào ngành nông nghiệp chiếm chín mươi chín phần trăm (90%) dân số thời đó, cho đó là ngành gốc và nhiệm vụ chính yếu của cuộc cách mạng. Có phục hồi, phát triển nông nghiệp, nông dân yên ổn cấy cày mới ổn định được trật tự xã hội, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là phát triển công nghiệp nhẹ, sản xuất hàng tiêu dùng sau thời kỳ bị tàn phá bởi nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm. Chiếu khuyến nông, Vua Quang Trung viết: “chính sự đạo vương cốt để vun gốc, vén ngọn, làm cho nông dân yên ổn cấy cày, nhờ đó trong nước không có người lười biếng, ngoài đồng không có đất bỏ hoang...Trẫm chịu mệnh trời giữ nghiệp lớn, bốn bề yên lặng. Nay buổi đầu đại định, chánh sách làm dân giàu phải lần lượt”. Hoài bão của nhà Vua muốn xây dựng nền kinh tế công thương nghiệp phát triển trên tinh thần tự cường, sản xuất nhiều hàng hóa tiêu dùng thỏa mãn nhu cầu người dân trong nước, cân bằng sức buôn bán giữa trong và ngoài nước.

Năm 1789 Vua Quang Trung chủ động viết thư cho Thống Đốc Lưỡng Quảng Phúc An Khang đề nghị mở cửa Ải, thông chợ búa, vì thế hàng hóa không ứ động, có lợi cho dân (Bang giao lục Ngô gia phái). Từ đó nhà Thanh

cho mở cửa khẩu Bình Nhì, Thủy Khẩu, Du Thôn để thương gia người Hoa sang buôn bán.

Ho lập các phố Kỳ Lừa, Mục Mã, Hoa Sơn. Năm 1790, Vua Quang Trung đề nghị lập nhà hàng tại phủ Nam Ninh thuộc tỉnh Quảng Tây để thương nhân người Việt sang buôn bán (Đại Nam Thư Lục). Vua Quang Trung cũng mời gọi các thương thuyền Tây phương đến buôn bán.

Năm 1792, Ông Giral viết thư từ Bố Chánh gửi về Pháp cho biết rằng Vua Quang Trung giao cho Ông đi Quảng Châu mời người Âu Châu đến buôn bán. Có hai tàu tây phương từ Áo Môn và Ma Cao đến bán cho nhà Vua một trăm ngàn cân lưu huỳnh. Giáo Sĩ Serard cũng nói: “Quang Trung muốn nhiều tàu bè tây phương đến buôn bán, mang theo hàng hóa mà họ cần.” Thế kỷ XVIII, thế lực thương mại phương tây kèm theo âm mưu xâm lược và độc chiếm thị trường, họ tìm cách né tránh một Hoàng Đế giàu tính tự cường và tôn trọng nền Độc Lập như Quang Trung, chỉ muốn yểm trợ cho bọn tay sai trong âm mưu thâm độc nhằm cướp nước. Đó là lý do chính mà tàu tây phương xuất hiện vùng Nguyễn Ánh kiểm soát nhiều hơn là lãnh địa của Tây Sơn.

4) Về Pháp Luật

Buổi đầu dựng nước, Vua Tây Sơn đã áp độ chế độ Quân Chính. Sự nghiêm khắc giúp ổn định xã hội trải qua nhiều biến động, bất ổn về chính trị liên tục xảy ra. Ngay những người thiếu thiện cảm với Vua Quang Trung cũng thừa nhận hiệu lực của biện pháp này. Sách Tây Sơn thuật lược nói: “Vua Quang Trung không lập pháp lệnh, điều ước. Việc thưa kiện đều do Ngài phân xử, có tội phần nhiều dùng đòn mà đánh để trừng trị. Bầy tôi trong ngoài đều sợ oai Ngài”. Pháp bất vị thân, nhà Vua thật công bằng đối với mọi người, kể cả Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân Công Chúa có lần bị đánh hai mươi hèo về tội bao che mẹ nhận hối lộ. Chứng kiến những ngày đầu Vua Quang Trung điều quân ra đàng ngoài, Giáo Sĩ Le Roy ở Nam Định viết: “những người Nam Hà nay áp dụng lối xử án khắc nghiệt, mới bị tố cáo, chẳng đòi xét xừ lôi thôi, họ đã chém đầu bọn trộm cướp. Dân chúng thích sự xử phạt

như vậy và sự liêm khiết của quân Tây Sơn”.

Năm 1787, Giáo Sĩ Thiebeau xác nhận: “quân trộm cướp không dám hành nghề”. Năm 1790, Giáo Sĩ La Mothe viết: “phải nói trắng ra rằng tình cảnh không đến nỗi tệ. Dưới triều này (chỉ Tây Sơn), chúng tôi được che chở khỏi bị bọn cướp phá, về phần đạo giáo, chúng tôi được hưởng nhiều tự do và an ninh hơn triều đại trước” (tập Tonkin).

Đến năm 1788, Vua Quang Trung đã chuyển đổi thể chế của Ông, cai trị bằng Pháp luật. Trong nhật ký của Giáo Hội Bắc Kỳ ghi lại một Sắc Lệnh của Nhà Vua: “Từ trước đến nay các Vua Chúa đều lấy Luật Pháp cai trị thần dân và duy trì hòa bình nên ta cũng noi gương các vị tiền bối đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng soạn thảo ra bộ luật để dân chúng sống trên đất ta nghiêm khắc tuân theo”. Luật được soạn thảo hoàn chỉnh dưới thời Tây Sơn được dịch ra tiếng Pháp. Giáo Sĩ Serard tiết lộ: “Về việc dịch thuật thì Linh Mục Văn làm, tôi được xem qua quyển sách đó” Năm 1882, một người Anh tên Crawfurd đến Việt Nam thuật lại: “tôi gặp nhiều thương nhân Hoa kiều ở Huế. Họ đã sống dưới chế độ Tây Sơn và chế độ nhà Nguyễn, họ nói chắc chắn rằng triều đại Tây Sơn cai trị công bằng và ôn hòa hơn Vua hiện tại (tức Minh Mạng) hay cha nhà Vua ấy (chỉ Gia Long)”.

5) Về Ngoại Giao

Về mặt địa lý, Việt Nam nằm sát Trung Quốc là một tai họa. Trung Quốc cai trị bởi Ông vua độc ác như Càn Long, tai họa lại lớn hơn. Nói với Ngô Thời Nhậm dưới núi Tam Điệp ngay khi đang tiến quân ra Bắc, nhà Vua tâm sự: “lần này ta thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua mười ngày có thể đuổi được quân Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười lần nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù, như thế việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy chỉ có

người có lời lẽ khéo léo mới dẹp được binh đao. Không phải Ngô Thời Nhậm thì không ai

làm được. Chờ mười năm cho ta được yên ổn nuôi dưỡng lực lượng, nước giàu dân mạnh thì ta có sợ gì chúng”(Đại Nam Thực Lục).

Sau trận đại thắng quân Thanh, Vua Quang Trung viết Biểu gửi Vua Càn Long kể tội Tôn Sĩ Nghị, vạch trần bản chất tham lam độc ác của nhà Thanh và kiên quyết giành mọi biện pháp bảo vệ nền Độc Lập Dân Tộc. Vua Quang Trung vạch rõ:“nay lấy thiên triều to lớn tranh giành với một nước nhỏ để thỏa lòng tham lam, tàn bạo, lại muốn đeo đuổi vũ lực đến cùng, xua quần chúng ra ngoài trận địa để chịu chết chóc, thì Thánh Thượng cũng không nỡ làm thế, nếu vạn nhất đánh nhau không dứt, thì lúc đó thần không còn lấy nước nhỏ để trọng nước lớn nữa, buộc phải nghe theo mạng Trời. Việc xảy ra không thể lường trước được, để rồi ra sao thì ra”(Đại Nam Chính Biên). Tiếp thư Thang Hưng Nghiệp kinh sợ nói với sử gia Hồ Hậu: “nay không phải là lúc hai nước đánh nhau sao nói toàn giọng tức giận”. Trong lúc đó Vua Càn Long xuống chỉ cho Thống Đốc Phúc An Khang và triều thần: “bây giờ không nên đánh” và phong cho Vua Quang Trung làm Quốc Vương An Nam, đòi đích thân Quang Trung đến kinh đô nhà Thanh triều cống nhân lễ Vạn Thọ mừng Vua Càn Long tám mươi tuổi vào năm 1790. Khi Vua Trung Quốc nhận biểu của Quang Trung hứa tiến kinh đã phê:“ta sắp gặp nhau là điều mong ước lớn”. Vua Càn Long bỏ lệ cống vàng bạc châu báu như các triều trước đã làm.

6) Phương án cho tương lai

Bình định được phương Bắc nhưng một phần Tổ Quốc ở miền Nam vẫn còn thống khổ dưới ách áp bức bốc lột của Nguyễn Ánh và bọn quan thầy thực dân Pháp, đó là mối bận tâm và niềm đau của nhà Vua. Trong nhật ký Giáo Hội Bắc Kỳ có ghi: “Vua Quang Trung trở về Phú Xuân ngày 2 tháng 3 năm 1789, và định thực hiện một chuyến viễn chinh vào Nam sau đó”. Theo tài liệu cho biết Vua Quang Trung phối hợp với Nguyễn Nhạc trong một kế hoạch ba bước đánh vào Gia Định với lực lượng ba trăm ngàn quân chính qui. Ngày 28 tháng 8 năm 1792 (tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5), Vua Quang Trung lệnh truyền như sau: “bây giờ theo lệnh Hoàng Đại Huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm quân theo hai đường thủy, bộ vào Nam dẹp giặc. Trẫm sẽ đập tan bọn nhà Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục....và suốt từ Bình Thuận đến Chân Lạp tức khắc được thu phục

Song hành việc chuẩn bị mở mặt trận phía Nam, Vua Quang Trung hướng về Trung Quốc, giúp Thiên Địa Hội khởi nghĩa, cùng lúc gửi phái đoàn ngoại giao Võ Văn Dũng đến Bắc Kinh với hai yêu sách cầu hôn Công Chúa nhà Thanh và xin thu hồi đất Lưỡng Quảng để đóng Kinh Đô. Mặt trận phía Bắc nhằm thu hút sự bận tâm của nhà Thanh đối phó những biến động mới, để Vua Quang Trung yên tâm hành quân về phương Nam.

Mặt trận ngoại giao ở phương Bắc có kết quả bất ngờ, Vua Càn Long lưu giữ Sứ Võ Văn Dũng lại Bắc Kinh nhằm chờ chuẩn phê hai yêu sách của Vua Quang Trung đạo đạt. Trước điện Rồng Võ Văn Dũng cầm tờ Chiếu của Vua Càn Long, chợt nghe tin Vua Quang Trung băng hà, đã té xỉu. Lúc tỉnh dậy Ông có bài thơ được dịch nghĩa:

“nước Nam dựng nghiệp từ Thần Nông.

Thời trước thời sau khó sánh cùng.

Trời để Vua ta thêm chục tuổi.

Anh hào Đường Tống hết khoe hùng”

Vua Quang Trung mất đi như một vì sao sáng vừa chợt tắc, để lại cho đời sau hào khí ngút trời, để lại người dân Việt có tâm huyết với Tổ Quốc, có tấm lòng với Dân Tộc nhiều bài học đáng noi theo. Từ Huệ tâm, Nguyễn Huệ qui tụ được mọi tầng lớp quần chúng trong mặt trận Đại Đoàn Kết toàn dân, lập kỳ tích viết lên trang sử ngời sáng chẵng những dân Việt mà Thế Giới đều ngưỡng mộ một vị Anh hùng một lòng vì nước, vì dân.  

Media

Bài giảng lễ các Thánh trước mộ cụ G.B Ngô Đình Diệm 01.11.2013

GS Trần Phương phát biểu tại Hà nội

CNXH được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ

CNXH đã thất bại! Chủ nghĩa cộng sản là ảo tưởng!

Chúng ta tự lừa dối chúng ta và chúng ta lừa dối người khác

 

SBTN SPECIAL:

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P1)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P2)

Phim Tài Liệu TỘI ÁC CỘNG SẢN (P3)

Đón Đinh Nhật UY ra khỏi chuồng cọp

Phát thanh Khối 8406 -18.10.2013

http://www.whitehouse.gov/share/the-shutdown-is-over

Hình Nhớ Người Thương Binh & Tri Ân Chiến Sĩ VNCH

Trung úy phi công Nguyễn Văn Lộc _ binh chủng Không Quân

Lịch sử chính xác sự thật vHồ Chí Minh

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P1)

Bí mật về cái chết và xác ướp Hồ Chí Minh (P2)

 

 

Hồi Ký

Nguyễn Mạnh Tường: Kẻ bị mất Thông Công ||

Nguyễn Huy Hùng: Hồi Ức Tù Cải Tạo

Đỗ Văn Phúc - Cuối Tầng Địa Ngục

Nguyễn Huy Hùng: Những dòng ký ức Tù

Duyên Anh: Trại Tập Trung ||  Đồi Fanta

Aleksandr I. Solzhenitsyn: Quần đảo ngục tù

Đặng Chí Bình: Thép Đen

LM Nguyễn Hữu Lễ: Tôi Phải Sống

 

Web VN

Sài Gòn Báo

Biệt Động Quân VNCH

Cựu SVSQ T. Đức Úc Châu

Cựu SVSQ T. Đức Nam CA

Đại Tá Nguyễn Huy Hùng

Hội Ái Hửu SVSQ TB Thủ Đức

Hội văn hóa người Việt Tự Do

Khoa học và đời sống

Nam Định Đồng Dế

Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Dức

Thủy Quân Lục Chiến VN

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH

Thiết Giáp Binh QLVNCH

Truyền Tin QLVNCH

Trường Vỏ Bị Quốc Gia VN

 

Bauxite Việt Nam

Con Đường Việt Nam.

Dân Chủ ca

Dân Làm Báo

Đỗ Văn Phúc

KhoaHoc.net

Lực lượng Cứu Nguy Tổ Quốc

Ly Hương

Sài Gòn báo

Saigon Times

Thư viện Việt Nam

Tự Do Ngôn Luận

Việt Nam Exodus

Việt Nam - Sài Gòn

Việt Vùng Vịnh

 

Không Quên Bạn Tù

Không Quên Đồng Bào Đau Khổ

     

DiễnĐàn | QuanĐiểm | ThờiSự | CộngĐồng | ViệtNam | ThơVăn | KhôngQuênBạnTù | HoaThờiLoạn | TàiLiệu | Media | HồiKý | TổngHội | KhuHội

Chính Việt xin đón nhận mọi ý kiến xây dựng và bài vở, xin email về   baochinhviet@gmail.com

Copyright © 2001 by Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam

All rights reserved.  Revised: 13 Feb 2017 08:13 PM